ĐỊA ĐẠO DIỄN CA – ĐỊA LÝ TẢ AO BÍ TRUYỀN

204

Địa đạo diễn ca của cụ Tả Ao do Cao Trung biên soạn gồm 2 phần chính là:

  1. 120 câu văn vần của cụ tả ao.
  2. Phần luận bàn (diễn giải của tác giả Cao Trung)

Nội dung chính gồm:

  1. Nguyên văn địa đạo diễn ca của cụ Tả Ao (120 câu thơ)
  2. Chương 1: Điều kiện cần thiết để học khoa địa lý
  3. Chương 2: Tầm long mạch
  4. Chương 3: Huyệt trường
  5. Chương 4: Chứng ứng cần thiết
  6. Chương 5: Phân biệt Đất phát văn hay võ. Huyệt Chát hay huyệt hung
  7. Chương 6: Các chứng khác thêm tôn quý cho cuộc đất
  8. Chương 7: Phước duyên của người được đất
  9. Chương 8: Lý khí
  10. Chương 9: Kết luận

Mời quý vị và các bạn cùng tham khảo ở bài viết dưới đây nhé.

ĐẠI LÝ TẢ AONGUYÊN VĂN ĐỊA ĐẠO DIỄN CA CỦA CỤ TẢ AO

1. Mấy lời để truyền hậu thế

2. Ai học địa lý theo học Tả Ao

3. Một là hay học càng cao

4. Hai là cố ý, cứ lời phương ngôn

5. Ba là học thuộc dã đàm

6. Bốn là mở sách La Bàn cho thông

7. Chẳng qua ra đến ngoài đồng

8. Tỏ mạch, tỏ nước, tổ long mới tường

9. Mạch có: mạch âm, mạch dương

10. Mạch nhược, mạch cường mạch tử, mạch sinh

11. Sơn cước mạch đi rành rành

12. Bình dương mạch lần, nhân tình không thông

13. Có mạch qua ao, qua sông

14. Quan đầm, qua núi, qua đồng, qua non

15. Lại có mạch phát ngội dương

16. Nhìn xem cho tường, ấy mạch làm sao?

17. Mạch thô di chẳng khép vào

18. Vốn di một chiều ấy mạch phát dương

19. Ba mươi sáu mạch cho tường

20. Trước là cứ sách, sau y lời truyền

21. Ruộng cao uốn xuống thì mạch táng trên

22. Ruộng thấp uốn lên thì mạch táng dưới

23. Bình Dương mạch chẳng nề châm gối

24. Hề chính long thì tả hữu chiều lai

25. Đâu có chính long thì có sơn thủy gối kề

26. Nhưng trên sơn cước non cao

27. Cường long thổ mạch, thế nào mới hay?

28. Tìm nơi mạch nhược long gầy

29. Nhất thời ca huyệt, nhị thời tàng phong

30. Đất có cát địa chân long

31. Táng cho phải phép anh hùng giầu sang

32. Nọ như dưới đất bình dương

33. Mạch thích giác điền xem tường mới hay

34. Bình dương lấy nước làm thầy

35. Thứ nhất khai khẩu thứ nhì nhũ long

36. Thứ bao mạch thắt cổ bồng

37. Thứ tư sơn chỉ hồi long càng tài

38. Muốn cho con cháu tam khôi

39. Phương Nam có bút phương Đoài có nghiên

40. Muốn cho con cháu Trạng Nguyên

41. Thời tìm bút lập hai bên sắp bầy!

42. Nhất là Tân, Tốn mới hay

43. Bính, Đinh, Đoài, Cấn sắp bầy đặt lên

44. Bút lập là bút Trạng Nguyên

45. Bút thích giác điền là bút thám hoa

46. Nhìn xem cho kỹ sẽ là đất hay

47. Khuyên ai học làm thầy Địa lý

48. Trước phải đọc sách, sau là lượng cao

49. Dù ai khôn khéo thế nào

50. Học mà chẳng xét ấy là vô tông

51. Thắt cổ bồng phồng ra huyệt kết

52. Xem cho biết Mộc tiết Kim loan

53. Mộc tiết văn đỗ Trạng Nguyên

54. Kim Loan võ được tước quyền Quận Công

55. Con Mộc vốn ở phương đông

56. Con Kim vốn nó về dòng phương tây

57. Xem cho biết nó mới hay

58. Táng cho phải phép thực dày vinh hoa

59. Thắt cuống cà phì ra mới kết

60. Xem cho biết huyệt cát huyệt hung

61. Huyệt cát nước tụ vào lòng

62. Đôi bên Long, Hổ uốn vòng chiều lai

63. Huyệt hung Minh – Đường bất khai

64. Sơn tà thủy Sạ hưởng ngoài tà thiên

65. Táng xuống kinh sảng bất yên

66. Con cháu thường thường phát bệnh ốm đau

67. Muốn cho con cháu sống lâu

68. Tìm nơi Huyền – Vũ cao dầy

69. Long Hổ bằng như chân tay

70. Chẳng có Tả, Hữu bằng ngay chẳng lành

71. Kìa như đất có ngũ tinh

72. Nhận xem cho biết tương sinh loan hoàn

73. Muốn cho con cháu nên quan

74. Thì tìm Thiên Mã phương Nam đứng chầu

75. Muốn cho kế thế công hầu

76. Thì tìm cờ trống dàn chầu hai bên

77. Ngũ tinh cách tú chiều nguyên

78. Kim, Mộc, Thủy, Hỏa bốn bên loan hoàn

79. Thổ Tinh kết huyệt trung ương

80. Ấy đất sinh Thánh sinh Vương đời đời

81. Thiên sơn vạn thủy chiều lai

82. Can chi bát quái trong ngoài tôn nghinh

83. Nhị thập bát tú thiên tinh

84. Tại thiên chiếu huyệt rành rành chẳng sai

85. Ngôi Đế Vương mặc Trời chẳng giảm

86. Huyệt công khanh chẳng kiếm ai cho

87. Đất khai hoa nhìn xem cho kỹ

88. Thấy thì làm chớ để lưu tâm

89. Trên sơn cước xa xăm cũng táng

90. Dưới bình dương nửa tháng cũng đi

91. Minh sinh, ám tử vô di

92. Coi đi coi lại quản chi nhọc nhằn

93. Quả nhiên huyệt chính long chân

94. Tiêu sa nạp thủy chớ lầm một ly

95. Táng thôi phúc lý tuy chi

96. Trâm anh bất tuyệt thư thi gia truyền

97. Muốn cho con trưởng phát tiên

98. Thì tìm long nội đất liền quá cung

99. Thanh long liên châu cao phong

100. Kim tinh, thổ phục, phát giòng trưởng nam

101. Con gái về bên hồ sơn

102. Hổ cao thì phát, sơn bàn cho thông

103. Phản hồ con gái lộn chồng

104. Phản long trai nó ra lòng bất nhân

105. Vô long như người vô chân

106. Vô hổ như đứa ở trần không tay

107. Trông Long – Hổ lấy làm thầy trước.

108. Sau sẽ tìm lấy chỗ huyệt chôn,

109. Nước chẳng tụ đường kể chi

110. Kiếm ăn cũng khá xong thì lại không

111. Con trai thì ở bất trung

112. Con gái thất tiết chả dùng cả hai

113. Thấy đâu Long – Hổ chiều lai

114. Minh Đường thủy tụ huyệt tài mới hay

115. Tiên quan, hậu quỷ sắp bầy

116. Án dầy muôn tháp, chiếu dày phải cao

117. Xem huyệt nào làm cho phải phép

118. Chớ đào sâu mà thiệt như không

119. Kìa ai Địa lý vô tông

120. Chẳng cử đúng phép cũng dòng vô sư

LUẬN BÀN ĐỊA ĐẠO DIỄN CA

CHƯƠNG THỨ NHẤT: ĐIỀU KIỆN CẦN THIẾT ĐỂ HỌC KHOA ĐỊA LÝ

(1)MẤY LỜI ĐỂ TRUYỀN HẬU THẾ

(2)AI HỌC ĐỊA – LÝ THEO HỌC TẢ AO

(3)MỘT LÀ HAY HỌC CÀNG CAO

(4)HAI LÀ CỐ Ý, CỨ LỜI PHƯƠNG NGÔN

(5)BA LÀ HỌC THUỘC DÃ ĐÀM

(6)BỐN LÀ MỞ SÁCH LA – BÀN CHO THÔNG

(7)CHẲNG QUA RA ĐẾN NGOÀI ĐỒNG

(8)TỎ MẠCH, TỎ NƯỚC, TỎ LONG MỚI TƯỜNG

Theo cụ Tả Ao thì muốn học cho giỏi khoa Địa lý phải học 4 cách:

Một là phải luôn luôn học cho giỏi mỗi ngày một tiến thêm lên:

(3) MỘT LÀ HAY HỌC CÀNG CAO

Hai là phải suy ngẫm cho kỹ những lời lẽ giản dị của Địa – Đạo – Diễn – Ca này. Mới nghe nó nhẹ nhàng như ca dao phương ngôn xong hàm chứa rất nhiều căn bản của khoa Địa –lý.

(4)HAI LÀ CỐ Ý CỨ Y LỜI PHƯƠNG NGÔN

Ba là sau khi hiểu kỹ những cơ bản về phép Tầm Long ở 120 câu Địa – Đạo Diễn – Ca này thì học đến quyển Dã Đàm Địa Lý Tả Ao để phép điểm huyệt được giỏi.

(5)BA LÀ HỌC THUỘC DÃ – ĐÀM

Bốn là phải biết dùng La bàn cho giỏi:

La-Bàn này hình tròn như cái đĩa, chính giữa có một kim chỉ nam và xung quanh có vẽ nhiều vòng, mỗi vòng chia ra làm nhiều ô. Trong vòng có ghi chữ và mỗi vòng dùng vào công việc khác nhau. Người mới học chỉ cần dùng 3 vòng là: 

1. Vòng thiên bàn

2. Vòng địa bàn

3. Vòng nhân bàn

Sau học giỏi có thể dùng thêm nhiều vòng khác. Địa bàn cỡ trung có 13 vòng. Cỡ nhỏ ít hơn và cỡ lớn nhiều hơn 13 vòng

Trong 3 vòng thường dùng thì:

1- Vòng ngoài cùng là thiên bàn, ứng dụng vào: hướng thu thủy, phóng thủy.

2- Vòng trong cùng là Địa –Bàn, dùng ấn định long mạch.

3- Vòng giữa là nhân bàn, dùng vào việc tiêu sa để xem sa nào tốt, sa nào xấu.

Cả 3 vòng đều được chia làm 24 ô, thì mỗi ô có 15 độ, vì mỗi ô có 15 độ vì một vòng tròn là 360 độ.

Các chữ trong ba vòng đều giống nhau nó chỉ khác nhau ở chỗ nếu lấy vòng trong cùng, vòng địa – bàn làm đích thì vòng thiên –bàn lệch sang bên phải nửa ô và vòng nhân bàn lệch sang trái nửa ô.

Chính Đông trùng vào chữ Mão

Chính Tây trùng vào chữ Dậu

Chính Nam trùng vào chữ Ngọ

Chính Bắc trùng vào chữ Tý

Nếu kể theo chiều kim đồng hồ quay (chiều thuận) từ Mão trở đi ta có 24 chữ như sau:

MÃO ẤT, THÌN TỐN TỴ, BÍNH NGỌ ĐINH, MÙI KHÔN THÂN, CANH DẬU TÂN, TUẤT CÀN HỢI, NHÂM TÝ QUÝ, SỬU CẤN DẦN, GIÁP.

Nếu phân làm tám hướng thì:

1- ĐÔNG có GIÁP MÃO ẤT

2- ĐÔNG NAM có THÌN TỐN TỴ

3- NAM có BÍNH NGỌ ĐINH

4- TÂY NAM có MÙI KHÔN THÂN

5- TÂY có CANH DẬU TÂN

6- TÂY BẮC có TUẤT CÀN HỢI

7- BẮC có NHÂM TÝ QUÝ 

8- ĐÔNG BẮC có SỬU CẤN DẦN

Nếu phân tích 24 hướng này ta lại thấy có 12 hướng thuộc địa chi là: 

TÝ, SỬU, DẦN, MÃO, THÌN, TỴ, NGỌ, MÙI, THÂN, DẬU, TUẤT, HỢI.

8 hướng thuộc thập can là: GIÁP, ẤT, BÍNH, ĐINH, CANH, TÂN, NHÂM, QUÝ.

4 hướng thuộc bát quái là: CÀN KHÔN CẤN TỐN.

Rồi cụ Tả Ao nhấn mạnh về sự quan trọng của thực hành TẦM LONG trong khoa Địa lý.

(7) CHẲNG QUA RA ĐẾN NGOÀI ĐỒNG

(8) TỎ MẠCH, TỎ NƯỚC, TỎ LONG MỚI TƯỜNG

Những người học được sách địa lý chính tông cũng đã là hay lắm rồi.

Tuy nhiên học ở sách mới là học lý thuyết mà không thực hành bổ túc thì lý thuyết đó cũng không đạt được kết quả cụ thể

Trong khóa học Địa lý người ta chia ra làm hai phần là Loan đầu và Lý khí.

Lý khí là phép quyết định ảnh hưởng kết quả của huyệt kết; Văn, Võ, Phú, Quý, Thọ cao bay thấp, chóng hay chậm. Phép này nặng về lý thuyết hơn phép Loan Đầu.

Trong khoa địa lý phép Tầm Long ta chú trọng Loan Đầu hơn vì nó là phép thực hành đi tìm long mạch ở ngoài đồng. Tầm Long là phép xem hình thể đất đai lồi lõm, đốn khởi mà tìm làm sao cho tới huyệt trùng là nơi có đất kết. Không phải chỉ xem sách xong ra ngoài đồng là biết Tầm Long ngay. Thực ra sách chỉ có thể cho ta một số yếu tố cần thiết. Muốn giỏi phải thực hành đi tìm long mạch ở ngoài đồng, ngoài trời một thời gian lâu nữa mới thấu hiểu được.

(7)CHẲNG QUA RA TỚI NGOÀI ĐỒNG

Địa lý là một khoa học cũng như các khoa học khác, mà việc thấu hiểu một khóa học nào cho kỹ lưỡng không ngoài phép phân tích và tổng hợp.

Ngay học Tầm Long ở ngoài đồng cũng thế, trước tiên ta phải biết phân tích rồi sẽ tổng hợp sau. Việc Tầm Long ta phải biết phân tích đâu là đại cuộc, đâu là tiểu cuộc, thế nào là Thái Tổ Sơn, Thiếu Tổ Sơn. Long đi như thế nào nước chảy làm sao. Chỗ nào long nhập thủ, đâu là huyệt tràng, huyền vũ, thanh long, bạch hổ, án sa minh hướng thủy hầu, Thế long, sinh, cường hay nhược…

Cũng nên định nghĩa những danh từ địa lý này để dễ phân tích.

Long mạch: Long mạch là mạch đất chạy trên mặt đất trong có khí mạch (cũng như cành cây trong có nhựa cây). Long có thể đi cao như những dãy đồi núi và cũng có thể đi rất thấp, nó là những thớ ruộng có khi chỉ cao độ 4 cm.

Nước: Nước từ long chảy ra lại chạy theo nuôi dưỡng và hộ vệ long. Những chỗ có nước tụ có khi là minh đường và có khi chỉ là hộ tống thủy (nước dẫn long).

Long nhập thủ: Long mạch chạy băng qua rừng núi, đồng bằng đến chỗ nào nhập thủ thì kết huyệt ở đó.

Huyệt tràng: Là khi chỗ ấy là huyệt kết.

Huyền vũ: Thế đất đàng sau huyệt trưởng trước khi đến huyệt trường.

Thanh Long: Thớ đất ở bên trái huyệt mọc ra ôm chầu vào huyệt.

Bạch hổ: Thớ đất ở bên phải huyệt mọc ra ôm chầu vào huyệt.

Án: Đất nổi lên trước mặt huyệt, bo đỡ cho huyệt. Án với huyệt như bàn giấy trước mặt người ngồi.

Sa: Là các gò đống, chứng ứng nổi lên hiện ra, xung quanh huyệt (kể cả trước và sau huyệt) Sa là nói chung: Bút, bảng, chiêng, trống, voi, ngựa, kiếm, ấn..

Thủy khẩu: Nơi nước đến Minh Đường và nơi nước từ Minh Đường đi.

Minh Đường: Nước tụ trước huyệt để nuôi dưỡng khí mạch của huyệt kết.

Long sinh: Long mạch sống động, trông nó bò ngoằn ngoèo, quay đầu, vẫy đuôi như con thú, con rắn sống đang bò.

Long tử: Long mạch nằm ngay đơ, đuỗn đuỗn như con lươn, con cá chết.

Long cường: Long mạch nổi lên to lớn, đứng hùng vĩ ngạo nghễ.

Long nhược: Long mạch nhỏ nhắn, dài, sắc thái thư thả, ung dung.

Phân tích ra chi tiết thì như thế nhưng nếu hiểu thấu đáo rồi mà tổng hợp lại thì rất giản dị. Cái gì có nước là thủy và cái gì có thớ đất là long, long đi thì mạch nước đi theo, long chỉ khi mạch tụ lại (chỉ tức là dừng lại).

Do đó cụ Tả Ao đã tổng hợp tất cả các chi tiết mà ta cần biết về phép học Tầm Long ở ngoài đồng vào một câu:

(8) TỎ MẠCH, TỎ NƯỚC, TỎ LONG MỚI TƯỜNG

Nom đất thì khó biết long đi cách nào. Nên phải mượn nước theo chiều nước chảy từ cao đến thấp thì biết chỗ long đi. Nếu nước hai bên dừng lại mà gặp nhau thì biết long đình. Mà long đình thì khi chỉ tụ lại đó mà kết huyệt.

(55) Con Mộc vốn ở phương đông

(56) Con Kim vốn có về dòng phương tây

(57) Xem cho biết nó mới hay

(58) Táng cho phải phép thực đầy Vinh hoa

(71) Kim như đất ý ngũ tinh

(72) Nhận xem cho biết tương sinh loan hoàn

CHƯƠNG THỨ HAI: TẦM LONG MẠCH

(9) MẠCH CÓ MẠCH ÂM MẠCH DƯƠNG

(10) MẠCH NHƯỢC MẠCH CƯỜNG MẠCH TỬ MẠCH SINH

(11) SƠN CƯỚC MẠCH ĐI RÀNH RÀNH

(12) BÌNH DƯƠNG MẠCH LẪN NHÂN TÌNH KHÔNG THÔNG

(13) CÓ MẠCH QUA AO QUA SÔN

(14) QUA ĐẦM, QUA NÚI, QUA ĐỒNG, QUA NON

(15) LẠI CÓ MẠCH PHÁT NGÔI DƯƠNG

(16) NHÌN XEM CHO TƯỜNG ẤY MẠCH LÀM SAO

(17) MẠCH THỔ ĐI CHẲNG KHÉP VÀO

(18) VỐN ĐI MỘT CHIỀU ẤY MẠCH PHÁT DƯƠNG

(19) BA MƯƠI SÁU MẠCH CHO TƯỜNG

(20) TRƯỚC LÀ CỨ PHÉP SAU Y LỜI TRUYỀN

Chương trên cụ Tả Ao mở đầu phép Tầm Long cho ta bằng phương pháp phân tích tổng hợp. Phân tích thì đi đến chi tiết còn tổng hợp thì thu các chi tiết về hai chữ nước và long mạch. Đến đây cụ Tả Ao bắt đầu dạy ta phép nhận xét các loại Long mạch.

1 – Trước tiên và dễ nhất là ta phải phân biệt long mạch, ta chia làm hai loại khác nhau là mạch dương và mạch âm.

(9) MẠCH CÓ MẠCH ÂM MẠCH DƯƠNG

Mạch ở dưới đồng bằng phần nhiều đi thấp được gọi là mạch dương.

Còn ở trên sơn cước đi theo các núi đồi cao lớn được gọi là mạch âm.

2 – Những mạch âm và mạch dương được Tả Ao phân chia theo hình thể trạng thái hùng vĩ hay thanh nhã linh động hoặc ngay đơ ra làm 4 yếu tố.

1- Mạch cường

2- Mạch nhược

3- Mạch sinh

4- Mạch tử

1- Thế mạch hùng vĩ cao to lớn, thủy đầu được gọi là mạch cường.

2- Thế mạch thanh nhã, nhọn giải được gọi là mạch nhược.

3- Thế mạch đi như con thú quay đầu vẫy đuôi, linh động gọi là mạch sinh.

4- Thế mạch đi đuỗn đuỗn ngay đơ, như con cá chết gọi là mạch tử.

Bốn mạch trên gồm vào câu: (10) MẠCH NHƯỢC MẠCH CƯỜNG MẠCH TỬ MẠCH SINH.

1- Trên sơn cước hay dưới bình dương cũng đều có mạch nhược, mạch cường, mạch tử, mạch sinh, tuy nhiên trên sơn cước vì mạch lớn hơn nên trông rõ hơn, còn dưới bình dương đi thấp hơn nên khó xem hơn. Nhiều mạch bình dương chỉ cao độ 4 phân tây, gần như là lẩn xuống bãi, lại càng khó xem hơn nữa.

(11) SƠN CƯỚC MẠCH ĐI RÀNH RÀNH

(12) BÌNH DƯƠNG MẠCH LẦN NHÂN TÌNH KHÔN THÔNG

4- Những mạch không những chỉ chạy trên sơn cước hay đồng bằng mà nó còn có thể chạy qua ao, qua sông, qua núi, lăn xuống dưới bãi, rồi đến quãng thật xa, mới nổi lên đi nữa. Lại có cả những mạch lặn xuống đầm hay xuống biển, hay qua bên kia biển hoặc đầm, rồi lại nổi lên đi nữa.

(13) CÓ MẠCH QUA AO QUA SÔNG

(14) QUA ĐẦM, QUA NÚI, QUA ĐỒNG, QUA NON

Với loại mạch đang đi lặn xuống một quãng xa mới nổi lên đi nữa, đã làm cho nhiều người tưởng lầm cho là long đến đó là hết không đi nữa (long chỉ) vội tìm huyệt. Nhất là mạch chạy đến chỗ có nước, lặn xuống rồi qua bên kia, đi nữa, lại càng làm cho nhiều người tưởng lầm hơn vì nó hơi đủ điều kiện cần thiết cho một đất kết, là Long – đình khí chỉ và thủy tụ.

Tuy nhiên với con mắt nhà phong thủy, có căn bản vững chắc, vẫn không lầm được.

Thật ra một kiểu đất kết phải hội đủ nhiều điều kiện nữa, như phải có long, hổ, án, chẩm quân bình phương chính: rồi nơi huyệt trường phải khai huyệt binh: Oa, kiềm nhũ, đột (oa có oa đứng và oa nằm). Đó mới là nói về mạch còn về nước thì một khi long còn đi nước hay phân ra, rồi khi đến huyệt kết, thủy lại phải hợp lại tại Minh Đường của huyệt mới đúng. Có khi chỗ nước tụ thành đầm, ao, hồ làm ta cứ tưởng là minh đường của huyệt lớn. Nhưng có khi, trái lại, nó chỉ có huyệt nhỏ hay không có huyệt. Chỗ nước tụ đó chỉ là cái đại dịch thủy, của một đại cán long. Ta gọi nó là hộ tống thủy.

Lấy gì mà biết là hộ tống thủy?

Khi nào bên cạnh một cái đại cán long (cành lớn của long) có đầm ao, hồ mà ở đó lại phát ra nhiều suối, lạch hay sông ngòi, đi nhiều chiều khác nhau, thì nó chỉ là hộ tống thủy. Cái khác là Minh Đường thì các ngọn nước chảy về, còn hộ tống thủy thì nước từ đó chảy đi nhiều đường. Ta càng chắc là hộ tống thủy nữa, khi ở bên kia chỗ thủy tụ, lại bát lên gò đống, thớ đất cao, rồi hai bên có phân thủy, chia ra hai giòng để chảy giáp bên thân long.

Đã biết phân biệt mạch sơn cước và mạch bình dương bằng cách mạch sơn cước thì cao lớn và mạch bình dương thì thấp khó thấy, nhưng chúng ta cũng phải biết phân biệt:

Mạch dương cơ và 

Mạch âm phần

Thật vậy, những ngôi đất kết có ngôi chỉ phát về âm phần (để mả), lại có ngôi đất chỉ phát về dương cơ (làm nhà). Đất phát âm phần, lợi cho sự chôn xương xuống đất và đất phát về dương cơ, lợi cho sự làm nhà lên trên Đất dương cơ. Nhỏ dùng làm nhà: còn to rộng lợi cho làm Doanh Trại, rộng nữa lợi cho làm thị trấn, đô thị hoặc kinh đô.

Muốn biết giá trị của đất dương cơ ta hãy minh chứng một sự kiện lịch sự, liên quan đến nó:

Trừ nhà Hùng – Vương được đất quê lớn ra, thì sau đó, nhà Đinh và tiền Lê trở về trước, những triều đại thịnh trị thật ngắn ngủi không được tới 3 đời, nên Quốc sư Vạn Hạnh phải tìm một đại địa khác làm Kinh Đô về Thăng Long nên nhà Lý làm vua được 8 đời và sau đó nhà Trần và Hậu Lê (Lê Lợi) cũng nhờ có đại địa đó làm Kinh Đô nên bền vững lâu dài hơn.

Ta hãy quay về Tả Ao Cụ Tả Ao nói là có hai loại đất kết một loại để cho xương người chết và một loại cho người sống ở, bằng hai câu:

(15) LẠI CÓ MẠCH PHÁT NGÔI DƯƠNG

(16) NHÌN XEM CHO TƯỜNG ẤY MẠCH LÀM SAO

Giờ ta xem thế nào mà biết mạch phát dương (hay dương cơ):

(17) MẠCH THỔ ĐI CHẲNG KHÉP VÀO

(18) VỐN ĐI MỘT CHIỀU ẤY MẠCH PHÁT DƯƠNG

Như vậy, mạch phát dương là mạch khi nhập thủ không thắt nhỏ lại rồi mới phình ra như mạch nhập thủ của âm phần. Trái lại mạch phát dương cơ trông thô hơn, cư thế đi đến đất kết.

2- Nguyên về mạch từ khúc 1 đến khúc 5 kể trên cụ Tả Ao đã cho ta biết nhiều thứ long mạch.

Khúc 1 ta thấy nói đến mạch âm và mạch dương

Khúc 2 nói về mạch cường, mạch nhược mạch sinh mạch tử.

Khúc 3 cũng nói về mạch Sơn cước và mạch bình dương.

Khúc 4 nói về mạch băng qua núi non đầm ao, sông.

Khúc 5 nói về mạch phát dương cơ và mạch phát âm phần.

Đến đây cộng tất cả các loại mạch đã kể có 15 loại khác nhau. Nhưng cụ Tả Ao lại nói phân tích cho kỹ về mạch thì có đến 36 loại mà người Địa Lý cần biết.

(19) BA MƯƠI SÁU MẠCH CHO TƯỜNG

(20) TRƯỚC LÀ CỨ PHÉP SAU Y LỜI TRUYỀN

Nói như vậy mà cụ không dậy thêm nữa, vậy ta hãy tìm ở các sách địa lý khác thêm một số mạch, để bổ túc. Chúng ta kiếm thêm.

– Mạch phong yêu: Mạch nhỏ diu như lưng ong (trước thắt nhỏ sau phình ra to).

– Mạch hạc tất: Hạc tất là gối hạc. Loại mạch này hai đầu nhỏ giữa to như gối con hạc.

– Mạch mã tích: Mạch chạy như vết chân ngựa: lúc lồi lên, lúc chìm xuống. Phần nhiều mạch này hay đưa đến huyệt kết oa đứng.

– Mạch băng hồng: Mạch qua sông, qua ruộng qua bể: đó là loại mạch chạy đến đây thì đình chỉ, nhưng chưa đầy đủ chứng ứng một huyệt kết, mà bên kia sông, đồng lấy lại bật lên gò đống đất cao, rồi 2 bên có phân thủy chia ra hai giòng để chảy giáp thân long.

– Mạch qua đăng: Mạch đi vằn vèo như giây dưa, giây bí, giây bầu: có thể quay sang bên tả kết, quay sang bên hữu kết, có thể quay về kết, có thể đến long đinh khi chỉ kết. Mạch qua đằng là loại mạch quý vì có nhiều sinh khí nhất.

– Mạch trực: Long mạch đi thẳng, loại mạch này khi kết huyệt nên có: nghịch sa hồi án.

– Mạch nghịch: Long đang đi quay ngược lại, rồi kết huyệt.

– Mạch thuận: Long đi theo thế đại cán long, đại giang, đại hải. Còn đất nhỏ thì đi thuận theo: tiểu giang, tiểu hải. Ví dụ một đại cán long đang đi, mọc ra một tiểu cán long hay tiểu chi long, rồi ra kết huyệt.

– Mạch hoành: Mạch đang đi quay ngang, rồi vào huyệt kết. 

– Mạch hồi: Mạch đang đi, quay lại thiếu tổ sơn như hình lưỡi câu móc, hồi cố lai. Ví dụ: Hợi long kéo đến Tốn, rồi cố tổ, Khôn long kéo đến Cấn, rồi cố tổ. Muốn biết huyệt thật thì phải hiểu thêm:

– Trực ky: trực long phải có triều tôn án và triều tôn thủy.

– Đảo ky: Nghịch long phải quỷ biến vi quan thuận.

– Thuận ky: Thuận long phải có nhiều sa thác lạc hay nhiều long hổ che chở xung quanh mới gọi là chưởng kết (đất hoành sơn của nhà Nguyễn Gia Long). Hoành long có chưởng kết mới quý còn không là bình thường và ngắn đời thôi.

– Nghịch kỵ: Hồi long phải có thái-tổ hay thiếu tổ cao giầy làm án (án cao ở gần hồi long cũng không bức không có hại trái lại còn dễ sinh hiếu tử trung thần).

– Về phép phân tích các loại long cho dễ hiểu, cụ Tả Ao nói là có 36 mạch khác nhau. Tuy nhiên thật ra còn có thể nhiều hơn hay ít hơn, tùy theo thế cáh và tên gọi cho dễ nhận ra. Cho đến đây chúng ta đã có đủ những phân tích long cần thiết, để cho người đi tầm long dễ tìm thấy huyệt.

CHƯƠNG THỨ BA: HUYỆT TRƯỜNG

(21) RUỘNG CAO UỐN XUỐNG, THÌ MẠCH TÁNG TRÊN

(22) RUỘNG THẤP UỐN LÊN THÌ MẠCH TÁNG DƯỚI.

(23) BÌNH DƯƠNG, MẠCH CHẲNG NỀ CHÂM GỐI

(24) HỄ CHÍNH LONG, THÌ TẢ HỮU CHIỀU LAI

(25) ĐÂU CÓ CHÍNH LONG, THÌ CÓ SƠN THỦY GỐI KỀ.

(26) NHƯNG TRÊN SƠN CƯỚC, NON CAO

(27) CƯỜNG LONG THỔ MẠCH. THẾ NÀO MỚI HAY

(28) TÌM NƠI MẠCH NHƯỢC LONG GẦY

(29) NHẤT THỜI OA HUYỆT, NHỊ THỜI TÀNG PHONG.

(30) ĐẤT CÓ CÁT ĐẠI CHÂN LONG

(31) TÁNG CHO PHẢI PHÉP ANH HÙNG GIẦU SANG

(32) NỌ NHƯ DƯỚI ĐẤT BÌNH DƯƠNG

(33) MẠCH THÍCH GIÁC ĐIỀN, XEM TƯỜNG MỚI HAY.

(34) BÌNH DƯƠNG LẤY NƯỚC LÀM THẦY

(35) THỨ NHẤT KHAI KHẨU THỨ NHÌ NHƯ LONG

(36) THỨ BA MẠCH THẮT CỔ BỒNG

(37) THỨ TƯ SƠN CHỈ HỒI LONG CÀNG TÀI

Trên kia cụ Tả Ao giảng về phép phân tích các loại Long để đi theo nó tìm cho tới huyệt tràng, là vùng đất trong đó có huyệt kết.

Tới đây cụ đưa ta đến huyệt tràng và giảng tiếp:

(21) RUỘNG CAO UỐN XUỐNG THÌ MẠCH TÁNG TRÊN

(22) RUỘNG THẤP UỐN LÊN THÌ MẠCH TÁNG DƯỚI

Là nếu từ chỗ ruộng cao, đã có long hổ ôm chầu vào huyệt tràng, ở chỗ cao mới cân đối.

Còn mạch nhập huyệt nằm dưới thấp, từ từ cao lên thì táng vào nơi cao vừa. Tiếp theo cụ nói đến phạm vi kết huyệt của loại mạch Bình – Dương.

(23) BÌNH DƯƠNG MẠCH CHẲNG NỀ CHÁM GỐI

(24) HỄ CHÍNH LONG THÌ TẢ HỮU CHIỀU LAI

Là mạch Bình dương tuy hay ẩn tàng, không lộ như mạch sơn cước nên khó kiếm hơn. Nhưng mạch Bình Dương lại có đặc điểm dễ kiếm huyệt, là hễ gặp chính long là có tả Thanh long hữu Bạch Hổ chiều về và không nệ thiếu gò nổi bật nên ở sau huyệt làm chẩm. Có càng hay mà không có cũng được vì ruộng đằng sau cao cũng làm chẩm rồi.

Được như vậy chỉ cần lập hướng đúng là được rất ít khi xảy ra sát như đất sơn cước.

Và tới đây cụ nói luôn đến mạch Sơn cước:

Mạch Bình Dương thường lành hơn mạch Sơn cước nên các thầy địa lý giỏi ưa kiếm mạch Bình Dương. Còn mạch Sơn Cước có núi cao ngạo nghễ hay phát võ anh hùng cường liệt, đa sát. Sát cho dòng họ người được đất và vì phát võ cách nhiều, nên nếu là đất lớn thì sự thành công của con cháu người được đất gây nên thảm sát cho thiên hạ nữa.

“Nhất tướng công thành vạn cốt khô”

Ta đã thấy vua Quang Trung sau khi được ngôi đất ở Sơn cước (Tây Sơn, An Khê) đã đánh giết 20 vạn quân Tôn Sĩ Nghị và Trầm Nghi Đống. Đó là sát hay.

Sát giở như Lý Tự Thành đời vua Súng – Trinh nhà Mãn Thanh. Sau khi được đất sơn cước làm loạn đánh về tới Kinh đô gây cho dân gian chết chóc vô kể.

Đất Sơn cước, lắm hung nhiều sát, long thấy rõ rằng nhiều thầy địa lý non thường thích tâm. Đất sơn cước nhiều tử khí nếu không tìm được tới long chân huyệt địa thì có hại. Tuy nhiên khó thì khó thật mà nếu biết phép chính tông địa lý và làm cho công phu cũng có thể giảm thiểu được sự hung sát. Do đó cụ Tả Ao có nói: 

(26) NHƯNG TRÊN SƠN CƯỚC NON CAO

(27)CƯỜNG LONG THỔ MẠCH THẾ NÀO MỚI HAY

Có nghĩa là đất Sơn cước có non cao hùng vĩ, cường long, mạch thổ phải để như thế nào mới tránh được hung sát. 

Cụ chỉ cho ta cách để như thế nào dưới đây.

(28) TÌM NƠI MẠCH NHƯỢC LONG GẦY

Câu nà là cả một bí pháp về phép để đát trên Sơn Cước mà rất ít sách địa lý của Tàu và ta chịu nói đến, nó có nghĩa:

Đất Sơn cước cường mạch hay sinh nhân đa sát nếu muốn tránh phải kiếm thứ long nào sâu, khi rời núi non chạy xuống đồng còn chạy ngang dọc cho bớt hung hăng cường mạnh, đến khi long dịu rồi mới vào huyệt. Hình dáng của long đó, khi dịu rồi, trông gầy và nhược. Đó là chân long của đất Sơn cước. Kiếm được huyệt ở chỗ đó sẽ sinh nhân hùng hậu, quân tử, không hung sát.

Sau khi nói rõ hai đặc tính của huyệt Sơn Cước và Bình Dương rồi Cụ Tả Ao tiếp theo về hình dáng chỗ kết huyệt. Phải chỉ hình dáng của chỗ kết huyệt thì mới dễ để mả, cũng nên nói thêm rằng đại cuộc đất dù lớn mấy trăm mẫu, huyệt tràng dù rộng cả nghìn thước nhưng chỗ huyệt kết nhỏ bằng cái chiếu mà thôi. Như vậy nên phải chỉ rõ hình tích của chỗ có huyệt kết để dễ kiếm.

Sau khi theo long tìm đến huyệt tràng rồi ta tìm tại nơi huyệt tràng chỗ nào có dấu hiệu oa, kiềm, nhũ, đột thì ta phải nghi chỗ đó là chỗ có huyệt kết của cuộc đất. Thế nào là oa, Kiềm, Nhũ, Đột?

Oa: là khai oa khum khum như gọng vó.Cụ Tả Ao gọi nôm na là: ‘khum khum gọng vó chẳng nó thì ai”

Kiềm: Cụ Tả Ao gọi là: “Thè lè lưỡi trai chẳng ai thì nó”

Nhũ: “hai bên có Long, Hổ cao ở giữa thò ra như quả bí, quả bầu. Cụ Tả Ao gọi là: “Thắt cuống cà sa đít nhện”.

Cuống cà nhỏ và thấp, hai bên long hổ cao bằng huyệt trường hay cao bằng mặt người ngồi ở huyệt.

Oa biến thể: Huyệt hình tam giác, hai bên long hổ duỗi ra thăng bằng và hơi cao hơn huyệt như chữ nhân (nó là oa biến thành tam giác).

Oa đứng: là chung quanh cao, giữa thấp có thể hoặc tròn hoặc hình bầu dục, hoặc hình chữ điền, chữ nhật (ở chỗ long đinh khí chỉ).

– Chi tiết chỗ đất kết ở Sơn Cước để đặt xương người xuống cho huyệt được khí mạch là hình Oa, hình Kiềm, hình Nhũ, hình Đột và hình Oa biến thể hay Oa đứng như kể ở trên xong nói về huyệt tàng phong hơn cả ở Sơn Cước thì huyệt khai: Oa, Kiềm vốn là tàng phong rồi.

(29) NHẤT LÀ OA HUYỆT NHỊ THỜI TÀNG PHONG

Câu trên có nghĩa là Oa Kiềm đã có tàng phong sẵn rồi rất tốt vì oa huyệt có gọng vó cao hơn huyệt che gió cho huyệt, kiềm cũng thế. Tuy nhiên ngoài oa kiềm ra còn có thể kết huyệt nhũ, đột nữa. Nhũ, đột cũng cần phải có Long – Hổ cao thăng bằng với huyệt trường để dễ che gió cho huyệt. Một huyệt kết mà không tàng Phong dễ sinh ra tội (yểu hoặc bệnh tật).

Nói tiếp về đất Sơn Cước. Đất này đã khó táng lại hiểm ít thủy tụ nên nhiều đất kết anh hùng mà vẫn nghèo. Tuy nhiên cụ Tả Ao có nói là nếu kiếm được chân long:

(30) ĐẤT CÓ CÁT ĐẠI CHÂN LONG

Mà biết chọn long điểm huyệt cho phải phép (dù là khó) thì vẫn có thể vừa anh hùng vừa giàu sang chứ không phải đất Sơn Cước nào cũng sinh nhân sanh hùng và nghèo đâu.

(31) TÁNG CHO PHẢI PHÉP ANH HÙNG GIÀU SANG

Tiếp theo cụ Tả Ao lại đề cập thêm nữa về loại huyệt Bình Dương:

(32) NỌ NHƯ DƯỚI ĐẤT BÌNH DƯƠNG

(33) MẠCH THÍCH GIÁC ĐIỀN XEM TƯỜNG MỚI HAY

(34) BÌNH DƯƠNG LẤY NƯỚC LÀM THẦY

Ba câu trên có nghĩa là huyệt Bình Dương tuy ít sát hơn huyệt Sơn Cước, tuy nhiên đất Bình Dương cao thấp không chênh lệch lắm nên khó xem hơn. Mà khó xem nhất là loại mạch thích giác điền; đó là thớ của long mạch đi bằng những góc ruộng. Các cụ sợ nhất những mạch ruộng có mũi nhọn đâm vào huyệt hay những góc ao quay mũi nhọn về huyệt:

“ Ruộng như mũi dao, ao như thước thợ”

– Con người Tả Ao phóng khoáng sau khi căn dặn những gì quan trọng nguy hiểm khó khăn của huyệt cho con cháu biết mà phòng bị khi để huyệt, thì bản tính dễ dãi yêu đời cố hữu lại trở về với cụ giảng tiếp:

– (34) BÌNH DƯƠNG LẤY NƯỚC LÀM THẦY

Để nhắc nhở lại cho ta biết là mạch Sơn Cước lấy Tàng Phong làm quan trọng thì mạch Bình Dương lại lấy Minh Đường làm chính, hễ có nước mà có sơn thủy gối kề có tả hữu chứ ít khi bị sát nặng như đất sơn cước.

Rồi cụ lại tiếp tục lể lể để nhắc lại những gì quan trọng:

(35) THỨ NHẤT KHAI KHẨU THỨ NHÌ NHŨ LONG

(36) THỨ BA MẠCH THẮT CỔ BỒNG

(37) THỨ TƯ SƠN CHỈ, HỒI LONG CÀNG TÀI

Câu 35 có nghĩa huyệt kết phải khai khẩu nghĩa là phải là Oa, Kiềm hay Nhũ, đột (đại cương Sơn Cước thì Oa, Kiềm và Bình Dương thì nhũ đột).

Câu 36 có nghĩa là khi long chạy đến huyệt kết trước khi nhập thủ đất phải thắt lại như cổ bồng thì mới chắc.

Nửa câu 37 có nghĩa là đất có huyệt thì sơn phải chỉ mạch đến đó không tiếp tục đi nữa mới kết được. Và tiếp theo nửa câu sau của câu 37 (Hồi long càng tài) có nghĩa là trong các huyệt kết thì hồi long cố tổ là quý nhất vì nó mau phát, mau ăn hơn loại huyệt kết: hoành long Trực long..

Những chữ thứ nhất, thứ hai, thứ ba và thứ tư ở câu 35, 36, 37 không phải là thứ tự tốt xấu và chỉ là kể lể 4 thứ quan trọng nhấn thêm để ta xem huyệt mà thôi.

(38) MUỐN CHO CON CHÁU TAM KHÔI

(39) PHƯƠNG NAM CÓ BÚT PHƯƠNG ĐOÀI CÓ NGHIÊN

LỜI BÀN: Bút cũng giống Kiếm, Nghiên cũng giống Ấn

Nếu những chứng ứng này ở hướng phát Văn hay ở thế đất phát. Văn thì gọi là bút.

Và khi nó ở hướng phát Võ hay ở thế đất phát Võ thì gọi là Kiếm.

Bút nghiên kiếm ấn đều là những Sa từ tay Long, tay Hổ bay từ huyệt tràng thôi ra làm tôn quý cho huyệt nếu bút đi với nghiên hay kiếm đi với ấn thì lại tôn quý hơn.

CHƯƠNG THỨ TƯ: CHỨNG ỨNG CẦN THIẾT

(38) MUỐN CHO CON CHÁU TAM KHÔI

(39) PHƯƠNG NAM CÓ BÚT PHƯƠNG ĐOÀI CÓ NGHIÊN

(40) MUỐN CHO CON CHÁU TRẠNG NGUYÊN

(41) THỜI TÌM BÚT LẬP HAI BÊN SẮP BẦY

(42) NHẤT LÀ: TÂN TỐN, MỚI HAY

(43) BÍNH ĐINH, ĐOÀI, CẤN SẮP BẦY ĐỘT LÊN

(44) BÚT LẬP LÀ BÚT TRẠNG NGUYÊN

(45) BÚT THÍCH GIÁC ĐIỀN LÀ BÚT THÁM HOA

(46) NHÌN XEM CHO KỸ SẼ LÀ ĐẤT HAY

Sau khi chỉ phép Tầm Long cho ta biết cách theo dõi long mạch để tìm đến huyệt tràng. Và sau đó từ huyệt tràng tìm ra huyệt kết đến đoạn này cụ Tả Ao đề cập đến một số chứng ứng cần thiết.

(38) MUỐN CHO CON CHÁU TAM KHÔI

(39) PHƯƠNG NAM CÓ BÚT PHƯƠNG ĐOÀI CÓ NGHIÊN

(40) MUỐN CHO CON CHÁU TRẠNG NGUYÊN

(41)THÌ TÌM BÚT LẬP HAI BÊN SẮP BÀY

Có nghĩa là muốn phát về Văn thì tìm huyệt nào mà phía Nam của huyệt có cây bút hoặc phía Tây (Đoài) của huyệt có gò đống tượng hình cái Nghiên. Và muốn cho con cháu đỗ cao, đỗ đầu tất cả các kỳ thi thì phải tìm cây bút đứng (đứng chứ không phải nằm ) sắp bầy hai bên trước mặt huyệt.

Tưởng cũng nên giải nghĩa cho rộng hơn nghĩa tóm tắt ở trên: Ngày xưa các cụ ta chỉ có một đường ra làm quan, để mở mặt với đời, báo hiếu cho cha mẹ, giúp dân giúp nước là “thi đỗ rồi ra làm quan”.

Việc thi cử chia ra làm 4 thời kỳ:

1. THI KHẢO HẠCH: thi khảo hoạch xem có đủ sức đi thi không

2. THI HƯƠNG: sau khi đủ sức đi thi rồi thì kỳ thi bắt đầu được thi là thi Hương. Thi Hương chọn đến Cử nhân, Tú tài gồm vài tỉnh gần nhau đến thi.

ĐẤT PHÁT TRẠNG NGUYÊN (phát văn)

(40) MUỐN CHO CON CHÁU TRẠNG NGUYÊN

(41) THÌ TÌM BÚT LẬP ĐÔI BÊN SẮP BẦY

(42) NHẤT LÀ TÂN TỐN MỚI HAY

(43) BÍNH, ĐINH, ĐOÀI, CẤN SẮP BẦY ĐỘT LÊN

Hình minh họa trang 30

LỜI BÀN: Bút lập là bút đứng và bút giác điền là bút nằm. Bút lập tốt hơn bút giác điền.Đất kết được một bút lập chính hướng cũng đã là tốt lắm rồi. Phương chi kiều đất vẽ trên 1 bút lập, 1 bút giác điền ở trước mặt và nằm chính hướng (Tân hoặc Tốn) cộng thêm hai bút lập nữa sắp bầy hai bên thì phải quyết là đất phát tới Trạng Nguyên.

3. THI HỘI: Sau khi đậu thi Hương những ai đậu Cử Nhân mới được vào thi Hội tại Kinh Đô, lấy đến Tiến Sĩ, phó bảng.

4. THI ĐÌNH: Ai thi Hội có điểm cao mới được vào thi Đình sân rồng nhà vua. Thi Đình lấy đến Trạng Nguyên là nhất (từ thời Gia Long trở đi bỏ không lấy Trạng Nguyên nữa).

Bởi lề lối thi cử xưa kia như thế nên cụ Tả Ao nói là ai muốn con cháu học giỏi để thi đỗ luôn cả ba khoa (tam khôi) thì chọn đất phương Nam huyệt có cây bút, phương Tây (Đoài) của huyệt có cái Nghiên.

GIẢI THÍCH:

1- Bút là trái núi, đứng nhọn đầu hay giải đất nằm đầu nhọn chầu về huyệt.

2- Nghiên là gò đống hay mảnh ruộng cong hình vuông, chữ nhật cũng có thể có nghiên hình tròn và bán nguyệt.

3- CÓ 2 loại bút cụ Tả Ao nói ở đây là bút nằm và bút đứng. Bút nằm là bút giác điền và bút đứng là bút lập. Bút lập còn gọi là bút kình thiên nghĩa là bút chống Trời.

Trên kia có nói kỳ thi sau cùng ở sân rồng nhà vua mà ai đỗ kỳ này thì sẽ là Trạng Ngyên thứ là Bảng Nhãn.

Vậy đỗ Trạng Nguyên trước tiên phải là đỗ Tam Khôi rồi kỳ cùng thi Đình lại đỗ đầu. Muốn cho con cháu học giỏi, thông minh như vậy phải tìm kiểu đất có sắp bầy bút lập ở hai bên đằng trước huyệt nhưng không phải hướng nào có bút lập cũng giỏi giang như vậy.

Dưới đây vụ Tả Ao chỉ cho ta biết hướng nào có bút lập mới tốt:

(42) NHẤT LÀ TÂN TỐN MỚI HAY

(43) BÍNH ĐINH ĐOÀI CẤN SẮP BẦY ĐỘT LÊN

Theo câu 42, 43 thì bút tốt nhất ở hướng Tân và hướng Tốn. Sau nữa đến bút ở hướng Bính, Đinh, Đoài hoặc Cấn. và cụ cũng giải nghĩa bút lập tốt hơn bút giác điền bằng ý nghĩa có bút lập có thể đỗ đến Trạng Nguyên còn bút giác điền tốt cũng chỉ đỗ đến Thám Hoa mà thôi.

ĐẤT THÁM HOA

(Phát văn) – hình minh họa trang 32

(45) BÚT THÍCH GIÁC ĐIỀN LÀ BÚT THÁM HOA

LỜI BÀN: – Kiểu đất vẽ trên có một bảng làm án và một bút giác điền (bút nằm) ở tây Hồ nên phát Thám Hoa.

Bảng bút ở Tân Tốn là chính hướng

Bính Đinh Đoài Cấn thứ nhì

Vì bảng ở Cấn nên chỉ đỗ đến Thám Hoa

(44) BÚT LẬP LÀ BÚT TRẠNG NGUYÊN

(45) BÚT THÍCH GIÁC ĐIỀN LÀ BÚT THÁM HOA

(46) NHÌN XEM CHO KỸ SẼ LÀ ĐẤT HAY

– Khoa địa lý có người gọi là địa ý có nghĩa là không thể căn cứ vào một mẫu mực nào mà theo đó đi tìm được đất. Các cuộc đất đều khác nhau, khác về chứng ứng chầu về huyệt cùng cách thế của huyệt tràng. Vì vậy nên phải suy tư cân nhắc làm sao để mả vào đúng huyệt chỉ lớn bằng cái chiếu mới hy vọng vó đất kết, mới thành công. Cổ nhân đã có câu:

“Mạch đi muôn vạn dặm nghìn

Chung quy huyệt kết chỉ tìm chiếu con”

Là thế. Cụ Tả Ao khuyên ai học địa lý trước tiên là phải đọc sách sau là phải ước lượng cho cao. Muốn ước lượng cho cao người học địa lý trước phải học được chính tông sau phải thực hành rất nhiều ở ngoài đồng và phải thông minh mới ước lượng đúng được, mới tìm ra cái “chiếu con” trong một địa cuộc đất đi cả muôn nghìn vạn dặm.

(47) KHUYÊN AI HỌC LÀM THẦY ĐỊA LÝ

(48) TRƯỚC PHẢI ĐỌC SÁCH SAU LÀ LƯỢNG CAO

(49) DÙ AI KHÔN KHÉO THẾ NÀO

(50)HỌC MÀ CHẲNG XÉT ẤY LÀ VÔ TÔNG

Cả 4 câu cụ Tả Ao nhấn mạnh về 2 điểm: 2 câu trên nói là phải lượng cho cao và 2 câu dưới nói là phải xét cho đúng.

Muốn lượng cao và xét đúng không phải dễ. Đọc sách địa lý cho kỹ để ước lượng cho rành mà còn phải thông hiểu cả dịch lý học tức âm dương học hay lưỡng nghi học để suy xét, bổ túc thêm cho khoa địa lý. Nơi đây ta thử lấy âm dương làm căn bản để ước lượng suy ngẫm một cuộc đất, tìm sự quân bình cho mọi chi tiết kỹ thuật của khoa địa lý.

-Trước tiên đất bình dương phẳng là dương, thì gò đống nổi cao hơn là âm và đất sơn cước nhiều đồi núi là âm thì thung lũng bãi của nó là dương. Đất sơn cước cường dũng nên chọn huyệt ở chỗ mạch nhỏ long gầy, nơi bình dương thấp phẳng phải chọn nơi cao làm huyệt (khởi đột). Như thế mới là âm dương cân đối.

-Rồi đến tay Long là dương phát ngành trưởng con trai thì tay Hổ là âm phát ngành thứ hay con gái. Long Hổ phải tương nhượng nhau. Long là anh phải dài hơn Hổ là em. Long dài hơn nên cần nhọn đầu thì Hổ ngắn hơn cần thùy đầu, hay tròn đầu.

-Sau đến núi(sơn) chủ tĩnh là âm thì nước (thủy) chủ động là dương. Khi đến huyệt kết phải có sơn thủy giao lại âm dương giao hội, nghĩa là núi chủ tĩnh đến đó phải quay đầu vẫy đuôi như động và nước chủ động đến huyệt kết thì phải lưu luyến nửa muốn ở nửa muốn đi, tụ lại trước huyệt rồi mới chảy đi.

-Núi và nước một động vật tĩnh đi song song như vợ với chồng che chở nâng đỡ hộ vệ cho nhau. Nước từ khe núi, từ mạch trong núi chảy ra ngoài thì nước lại theo núi mà nuôi dưỡng cho khí mạch của núi, cho núi đỡ khô.

Long mạch đi có vẻ Âm thì chuyển Dương mới vào huyệt. Trái lại Long mạch đi đang Dương thì nhập thủ huyệt trường phải âm.

Trên đây nói sơ về lý âm dương. Ngoài lý âm dương ta còn phải chú trọng đến ngũ hành nữa. Thấy hình tròn ta gọi là kim, dài là mộc, nhọn là hỏa, vuông là thổ, là như sóng gợn là thủy.

Ngay đến phương hướng cũng có âm dương ngũ hành khác nhau:

Hướng: Hợi, Nhâm, Quý là thủy

Hướng: Sửu, Cấn là thổ

Hướng: Dần, Giáp, Mão là mộc

Hướng: Thìn là thổ

Hướng: Tý, Bính, Ngọ, Đinh là hỏa

Hướng: Mùi, Khôn là thổ

Hướng: Thân, Canh, Dậu, Tân là kim

Hướng: Tuất là thổ

Hướng: Càn là kim

Trên là Hướng còn phương có ngũ hành

Hành mộc: ở Phương Đông

Hành kim: ở Phương Tây

Hành Hỏa: ở Phương Nam

Hành thủy: ở Phương Bắc

Hành thổ: ở Trung Ương

Do dó cụ Tả Ao nói là: Học chẳng xét cũng là vô tông ở câu 50 có nghĩa là học mà không biết suy xét cho cặn kẽ không phải là địa lý chính tông, không có gốc căn bản.

ĐẤT HÌNH MỘC (DÀI) PHÁT VĂN

Hình minh họa – trang 36

(33) MỘC TIẾT VĂN ĐỖ TRẠNG NGUYÊN

LỜI BÀN: Mộc là hình dài hay phát về văn. Hình vẽ trên chỉ là hình vẽ tượng trưng cho dễ hiểu chứ không phải chỉ có kiểu đất hình như vậy mới đỗ trạng nguyên. Trong hình vẽ ta thấy chỗ đất kết cũng hình dài và trước sau, phải trái cũng có nhiều hình dài (trước 3 bảng phải trái 3 tầng Long Hổ toàn tượng trưng cho văn cả, nên ước đoán là văn tới bậc cao nhất (Trạng Nguyên).

CHƯƠNG THỨ NĂM

PHÂN BIỆT

A- ĐẤT PHÁT VĂN HAY VÕ

B- HUYỆT CÁT HAY HUNG

A- ĐẤT PHÁT VĂN HAY VÕ

(51) THẮT CỔ BỒNG PHỒNG RA HUYỆT KẾT

(52) XEM CHO BIẾT MỘC TIẾT KIM LOAN

(53) MỘC TIẾT VĂN ĐỖ TRẠNG NGUYÊN

(54) KIM LOAN VÕ ĐƯỢC TƯỚC QUYỀN QUẬN CÔNG

(55) CON MỘC VỐN Ở PHƯƠNG ĐÔNG

(56) CON KIM VỐN NÓ VỀ DÒNG PHƯƠNG TÂY

(57) XEM CHO BIẾT NÓ MỚI HAY

(58) TÁNG CHO PHẢI PHÉP THỰC DÀY VINH HOA

Đoạn này cụ Tả Ao giảng về hình dáng đất có huyệt kết và ảnh hưởng của nó như thế nào?

Một đất có huyệt kết thường cần có đặc điểm là phải thắt cổ bồng rồi phình ra mới chắc ăn. Ý này ở trên cụ đã nói rồi, xong là quan trọng nên cụ lại nhắc lại lần thứ hai:

(51) THẮT CỔ BỒNG PHỒNG RA HUYỆT KẾT

(52) XEM CHO BIẾT MỘC TIẾT KIM LOAN

(53) MỘC TIẾT VĂN ĐỖ TRẠNG NGUYÊN

(54) KIM LOAN VÕ ĐƯỢC TƯỚC QUYỀN QUẬN CÔNG

Một đất sinh nhân thế nào, đầu tiên phải biết đất đó thuộc về văn hay võ. Văn cao nhất là Trạng Nguyên, Tể tướng rồi xuống thấp dần cho đến Thư ký. Về võ cao nhất là Quận Công, Nguyên Soái rồi xuống dần cho đến lính trơn. Trước khi biết giá trị của đất đó làm đến chức vụ gì thì ta phải biết nó về loại văn hay võ đã.

Nếu phát văn thì thường đất hình dài, mà dài là hình mộc và nếu là võ thì thường đất hình tròn mà tròn là hình Kim. Phân biệt phát văn hay võ trước, rồi coi cho đủ chi tiết có thể đoán được văn cao đến bậc nào, võ lớn tới mức nào, trong văn ban hoặc võ ban. Trường hợp đất vừa dài vừa tròn ta có thể cho là phát cả văn lẫn võ.

Hình minh họa trang 38

(54) KIM LOAN VÕ ĐƯỢC TƯỚC QUYỀN QUẬN CÔNG

LỜI BÀN: Nêu giải tượng hình cho văn thì hình kiểu đất trên có nhiều đối nổi lên hình tròn là phát võ. Quá nhiều hình tròn như hình trên có thể ước đoán là cao nhất của võ (Quận Công). Trước có cả tam thai hình tròn. Long Hổ Huyền Vũ cũng có nhiều hình tròn phải quyết đóan là võ cách cao nhất.

Tuy nhiên cụ nói là mộc tiết chứ không phải mộc và kim loan chứ không phải kim. Mộc tiết là cái mắt của gỗ, kim loan là cái cốt của bánh xe.

Câu “Xem cho biết mộc tiết kim loan” ta phải hiểu mộc tiết kim loan là nhũ đột và oa kiềm.

Phát võ, phát phú thì xung quanh có nhiều con kim triều củng. Phát văn thì xung quanh có nhiều con mộc con hỏa triều củng.

Mộc phát văn, kim phát võ, ta cứ lấy đó làm chính và cũng lấy đó mà thừa trừ cân nhắc suy xét cả đại cuộc đất thì sẽ có thể biết rõ được đất phát như thế nào, càng chi tiết được nhiều càng chính xác. Muốn giỏi đoán ta phải biết nhiều về lý khí. Phạm vi quyền này chỉ nặng về loan đầu. Đến quyển Dã Đàm Tả Ao chúng tôi cho xuất bản kế tiếp sẽ nói nhiều về lý khí hơn.

Những chứng ứng chầu về huyệt cũng có ảnh hưởng. Nếu là chứng ứng hình mộc thì phương Đông hành mộc là vượng (theo ngũ hành) và tròn là hình kim thời phương tây hành kim là vượng.

Các thầy địa lý hay hát hình để làm tôn vẻ đẹp cho cuộc đất gọi là con Phượng, con Lân, con Rùa, con Chim, con Hổ, con Voi nhưng cũng không ngoài sự kết huyệt phải có oa, kiềm, nhũ, đột khi long đình khí chỉ. Dù có những con đó mà không có long đình khí chỉ thì cũng không kết. Nếu muốn gọi con gì cũng được xong căn bản ngũ hành là điều ta cần nhớ cho kỹ.

-Con Mộc hình dàu và phương Đông thuộc Mộc

-Con Kim hình tròn và phương Tây thuộc Kim

-Con Hỏa hình giải nhọn và phương Nam thuộc Hỏa

-Con Thủy hình sóng gợn và phương Bắc thuộc Thủy

-Con Thổ hình vuông và Trung Ương thuộc Thổ

Xem những hình thể đất và chứng ứng hình gì (con Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ) và xem phương hướng chúng đóng để biết sinh vượng hay tử, tù hựu rồi táng cho phải phép thì dòng dõi này được vinh hoa phú quý.

Cụ Tả Ao đã tóm ý trên vào 4 câu.

(55) CON MỘC VỐN Ở PHƯƠNG ĐÔNG

(56) CON KIM VỐN NÓ VỀ DÒNG PHƯƠNG TÂY

(57) XEM CHO BIẾT NÓ MỚI HAY

(58) TÁNG CHO PHẢI PHÉP THỰC DÀY VINH HOA

ấy thế là những hình đắc vị

Tuy nhiên ngũ hành mới là phụ thuộc. Đúng phương vị càng hay, không đúng cũng không sao. Miễn là huyệt kết đúng phép huyệt trường có oa, kiềm, nhũ, đột là được.

Kiếm được đất kết oa, kiếm, nhũ đột rồi tránh được cái xấu của sa và thủy cũng là quý hóa rồi.

B-HUYỆT CÁT HAY HUYỆT HUNG

(59) THẮT CUỐNG CÀ PHÌ RA MỚI KẾT

(60) XEM CHO BIẾT HUYỆT CÁT HUYỆT HUNG

(61) HUYỆT CÁT NƯỚC TỤ VÀO LÒNG

(62) ĐÔI BÊN ONG HỔ UỐN VÒNG CHIỀU LAI

(63) HUYỆT HUNG MINH ĐƯỜNG BẤT KHAI

(64) SƠN TÀ THỦY XẠ HƯỚNG NGOÀI TÀ THIÊN

(65) TÁNG XUỐNG KINH SẢNG BẤT YÊN

(66) CON CHÁU THƯỜNG THƯỜNG PHÁT BỆNH ỐM ĐAU

(67) MUỐN CHO CON CHÁU SỐNG LÂU

(68) TÌM NƠI HUYỀN VŨ ĐẰNG SAU CAO DẦY

(69) LONG HỔ BẰNG NHƯ CHÂN TAY

(70) CHẲNG CÓ TẢ HỮU BẰNG NGAY CHẲNG LÀNH

Phần này cụ Tả Ao ấn định huyệt tốt, xấu vào hai loại: huyệt cát và huyệt hung. Trước khi nói đến hai loại huyệt này cụ lại cẩn thận chắc chắn, nhắc lại lần thứ ba một ý nữa:

(59) THẮT CUỐNG CÀ PHÌ RA MỚI KẾT

Để con cháu xem lại có phải là đất kết không đã, rồi mới đi vào phần chi tiết tìm hiểu một huyệt cát hay huyệt hung. Cụ phải nhắc lại như vậy vì lý do:

-Nếu không phải đất có huyệt kết thì phân tích huyệt hung làm gì cho mất thì giờ.

Bây giờ cụ mới giảng chỗ có huyệt kết đó: cát hay hung

(60) XEM CHO BIẾT HUYỆT CÁT HUYỆT HUNG

(61) HUYỆT CÁT NƯỚC TỤ VÀO LÒNG

(62) ĐÔI BÊN LONG HỔ UỐN VÒNG CHIỀU LAI

(63) HUYỆT HUNG MINH ĐƯỜNG BẤT KHAI

(64) SƠN TÀ, THỦY XẠ, HƯƠNG NGOÀI TÀ THIÊN

Một đất kết có rồi ta phải xem nó là đất kết cát hay hung. Huyệt hung thì Minh Đường không tụ nước và sơn thủy xấu.

Sơn Thủy xấu là: 

(64) SƠN TÀ, THỦY XẠ, HƯƠNG NGOÀI TÀ THIÊN

-Sơn tà là sơn không chính. Sơn là các sa như bút(… nhọn) bảng (hình chữ nhật) ấn (hình vuông), ngựa voi, trâu, lân, hổ (hình thú) …

Những chứng ứng này không chầu vào huyệt, chiều cao không cân đối (gần thì ngang huyệt, càng xa càng cao hơn). (Đồi) là sơn là (không chính), không quân bình, phương chính. Sơn xấu làm cho huyệt kết thành kết hung.

-Thủy xạ: Thủy xạ là các ngọn nước đáng nhẽ phải (thiếu chữ… ) nhiều (chạy khuất khúc) chầu về huyệt thì đâm thẳng vào huyệt hay vào giữa Minh Đường như phóng mũi nhọn của nó vào huyệt hay vào giữa Minh Đường. Nước như (thiếu chữ …) thủy xạ. Thủy như thế là thủy xấu làm cho huyệt kết thành huyệt hung.

-Hướng ngoài tà thiên là sơn hay thủy đáng nhẽ chầu vào huyệt thì lại quay lưng lại huyệt và chầu ra ngoài (hướng ngoài).

Các sa méo mó lệch lạc siêu vẹo lở đứt. Sơn thủy hướng ngoài tà thiên cũng làm cho huyệt kết trở nên huyệt hung.

Không những sa (sơn) và thủy (ngọn nước) “hướng ngoài tà thiên” là xấu, mà chính ngay Minh Đường hướng ngoài tà thiên cũng xấu nữa. Minh Đường hướng ngoài tà thiên là loại Minh Đường nghiêng lệch đổ nước ra ngoài chứ không thu nước vào trước huyệt. Minh Đường mà nghiêng lệch thì con cháu sẽ có tâm địa tà dâm, bất chính.

Ta lại tóm tắt huyệt cát huyệt hung qua Minh Đường, Long Hổ Huyền Vũ một lần nữa vì nó là quan trọng. vì nó là quan trọng.

Minh Đường ảnh hưởng đến sự giàu nghèo và sự thông minh hay ngu đần của con cháu, còn Long Hổ phải ôm chầu về huyệt.

Huyệt hung thì Minh Đường không có nước (Minh Đường bất khai) cib cháu sẽ nghèo. Minh Đường phải quanh năm có nước con cháu mới giầu được.

Nói qua Minh Đường rồi nay nói đến Long Hổ: Long Hổ phải ôm chầu vào huyệt mới tốt. Tay Long và tay Hổ không tay nào được ngoảnh ra ngoài.

Để mả vào chỗ đất có huyệt hung thì có thể có báo hiệu ngay bằng cách trong nhà thấy đau yếu tang thương.

(65) TÁNG XUỐNG KINH SẢNG BẤT YÊN

(66) CON CHÁU THƯỜNG THƯỜNG PHÁT BỆNH ỐM ĐAU

Táng phải huyệt hung thì khi đất chưa kết đã xảy ra tang thương bệnh tật cho con cháu trong nhà trong họ. Nhiều người cho là đất kết phải sát trước mới phát sau. Sự thực thì lại gặp huyệt hung và tiêu sa nạp thủy không giỏi mà ra.

Nói về huyệt cát huyệt hung ta cần phải chú trọng đến Huyễn Vũ nữa. Huyền Vũ là chỗ long mạch dẫn và huyệt kết. Nó là nơi rót khí mạch vào huyệt. Nơi Huyễn Vũ mà cao, dày thì con cháu mới được thọ, mới sống lâu. Huyền Vũ mỏng và thấp con cháu kém thọ thì dù có học giỏi cũng không ra gì.

(67) MUỐN CHO CON CHÁU SỐNG LÂU

(68) TÙM NƠI HUYỀN VŨ ĐẰNG SAU CAO DẦY

(69) LONG HỔ BẰNG NHƯ CHÂN TAY

(70) CHẲNG CÓ TẢ HỮU BẰNG NGAY CHẲNG LÀNH

Tay Long tay Hổ của huyệt cũng như tay phải tay trái của người. Nó không được đứt đoạn, khuyết, hãm mà còn cần phải bằng ngay cao ngang huyệt tràng để che gió cho huyệt thì mới không có hại (gọi là tang phong).

Một đất kết ở giữa thì đằng sau có Huyền Vũ. Hai bên có Long Hổ, đằng sau có Án mới đủ quân bình phương chính mà ở đây cụ Tả Ao không đề cập á. Vậy phải nói thêm cho đủ.

Án ở trước huyệt như cái bàn giấy trước mặt người ngồi. án hộ huyệt ở đằng trước cũng như trầm ở đằng sau, Long Hổ ở hai bên. Như vậy án cũng phải có “tinh” với huyệt. Muốn thế án phải ôm chầu về huyệt. Rất ky án có mũi nhọn đâm hoặc phản lưng vào huyệt.

Cụ Tả Ao không nói Án xong có nói đến Sa (Sơn) – Án cũng là một loại sa nhưng can hệ hơn các Sa khác. Án là thứ sa chính.

Án trước huyệt cũng như khách trước mặt chủ, vậy chủ khách phải tương nghênh mới tốt.

ĐẤT PHÁT QUAN

HÌNH MINH HOA

TRANG 45

(73) MUỐN CHO CON CHÁU NÊN QUAN

(74) THÌ TÌM THIÊN MÃ PHƯƠNG NAM (NGỌ) ĐỨNG CHẦU

LỜI BÀN: Chứng ứng hình các giống thú hay chiêng trống đình đài vờ biển càng tên quý thêm cho huyệt kết.

Kiểu đất trên đây có án hình con ngựa ở chính hướng (hướng Nam) chầu về huyệt. Tay Long lại có cái cờ. Đất này phát quan.

CHƯƠNG SÁU: CÁC CHỨNG KHÁC THÊM TÔN QUÝ CHO CUỘC ĐẤT

(71) KÌA NHƯ ĐẤT CÓ NGŨ TINH

(72) NHẬN XEM CHO BIẾT TƯƠNG SINH LOAN HOÀN

(73) MUỐN CHO CON CHÁU NÊN QUAN

(74) THÌ TÌM THIÊN MÃ PHƯƠNG NAM ĐỨNG CHẦU

(75) MUỐN CHO KẾ THẾ CÔNG HẦU

(76) THÌ TÌM CHIÊNG TRỐNG DÀN CHẦU HAI BÊN

(77) NGŨ TINH CÁCH TÚ CHIỀU NGUYÊN

(78) KIM, MỘC, THỦY, HỎA BỐN BÊN LOAN HOÀN

(79) THỔ TINH KẾT HUYỆT TRUNG ƯƠNG

(80) ẤY ĐẤT SINH THÁNH SINH VƯƠNG ĐỜI ĐỜI

(81) THIÊN SƠN VẠN THỦY CHIỀU LAI

(82) CAN CHI BÁT QUÁI TRONG NGOÀI TÔN NGHING

(83) NHỊ THẬP BÁT TÚ TÔN TINH

(84) TẠI THIÊN CHIẾU HUYỆT RÀNH RÀNH CHẲNG SAI

PHẦN NÀY CỤ TẢ AO BÀN RỘNG VỀ PHÉP TƯƠNG SINH CỦA NGŨ HÀNH VỚI KHOA ĐỊA LÝ VÀ NÓI ĐẾN NHỮNG CHỨNG ỨNG TÔN THÊM VẺ QUÝ CHO HUYỆT.

TRƯỚC TIÊN CỤ NÓI ĐẾN NGŨ HÀNH:

(71) KÌA NHƯ ĐẤT CÓ NGŨ TINH

(72) NHẬN XEM CHO BIẾT TƯƠNG SINH LOAN HOÀN

Có nghĩa là muốn suy xét rộng ngoài lẽ âm dương đã nói ở trên ta phải nắm vững thêm ngũ hành. Tất cả các hình thể của đất, trước nhất là phải chú trọng đến năm hành là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ.

1-Hình tròn là Kim tinh hay con Kim

2-Hình dài là mộc tinh hay con Mộc

3-Hình vuông là thổ hay con Thổ

4-Hình nhọn là Hỏa tinh hay con Hỏa

5-Hình sóng gợn là thủy tinh hay con Thủy

Những con này có thể đứng hay nằm. Nếu là đồi cao thì đứng và giải đất thì nằm. Đứng phải nhìn theo trác diện của người đứng ở huyệt kết và nằm phải nhìn theo bình diện của người ở trên cao giữa hình đất đó nhìn xuống.

Ngoài các loại chứng ứng cần thiết như: Kiếm, Ấn, bút nghiên lại còn những chứng ứng ..tôn thêm vẻ quý cho kiểu đất như: ngựa, voi, rồng, lân, trâu, chiêng, trống, đình, đài…Những chứng ứng này hoặc đóng ở bên tay Long, tay Hổ hoặc trước án hoặc ở thủy khẩu cũng được.

Càng nhiều chứng ứng càng rộng bao la càng có la thành bao bọc nhiều tầng càng lớn càng quý Cụ Tả Ao lấy một ví dụ chứng ứng là con ngựa (thiên mã).

(73) MUỐN CHO CON CHÁU NÊN QUAN

(74) THÌ TÌM THIÊN MÃ PHƯƠNG NAM ĐỨNG CHẦU

Thiên Mã ở Tử Vi thuộc hỏa là hỏa tinh, và phương Nam cũng thuộc hỏa nên Thiên mã được chính vị là vượng nên có ảnh hưởng tốt cho huyệt kết.

(75) MUỐN CHO KẾ THẾ CÔNG HẦU

(76) THÌ TÌM CỜ TRỐNG DÀN CHẦU HAI BÊN

Dưới đây cụ Tả Ao đề cập đến kiểu đất quý nhất để làm ví dụ:

(77) NGŨ TINH CÁCH TÚ CHIỀU NGUYÊN

(78) KIM, MỘC, THỦY, HỎA BỐN BÊN LOAN HOÀN

(79) THỔ TINH KẾT HUYỆT TRUNG ƯƠNG

(80) ẤY ĐẤT SINH THÁNH SINH VƯƠNG ĐỜI ĐỜI

(81) THIÊN SƠN VẠN THỦY CHIỀU LAI 

(82) CAN CHI BÁT QUÁI TRONG NGOÀI TÔN NGHINH

(83) NHỊ THẬP BÁT TÚ THIÊN TINH

(84) TẠI THIÊN CHIẾU HUYỆT RÀNH RÀNH CHẲNG SAI

Kiểu đất quý ở câu 77 đến 84 trên đây không sinh Thánh cũng sinh Vương có những đặc biệt như sau:

1-Giữa thổ tinh kết huyệt, phía Đông có con Mộc, phía Tây có con Kim, phía Nam có con Hỏa, phía Bắc có con Thủy.

2-Nếu lớn thì phải có nhiều ngọn nước và nhiều núi chầu về

(81) THIÊN SƠN VẠN THỦY CHIỀU LAI

3-Các chứng ứng chầu về đều nằm đúng vị trí chính vị của nó theo ngũ hành:

(82) CAN CHI BÁT QUÁI TRONG NGOÀI TÔN NGHINH

Để ứng về tử vi tòa trên trời có 28 vị sao chầu về:

(83) NHỊ THẬP BÁT TÚ THIÊN TINH

(84) TẠI THIÊN CHIẾU HUYỆT RÀNH RÀNH CHẲNG SAI

Cách quý như trên, sinh được Thánh Vương, rất khó kiếm nhưng được một phần của cách đó cũng khá lắm rồi.

ĐẤT PHÁT CÔNG HẦU

HÌNH MINH HỌA TRANG 49

(75) MUỐN CHO KẾ THẾ CÔNG HẦU

(76) THÌ TÌM CHIÊNG TRỐNG DÀN CHẦU HAI BÊN

LỜI BÀN: Đất kết hình vuông (thổ) lại thêm nhiều tầng Long Hổ có hình cờ bảng trống (ở tay Long) chiêng (ở tay Hổ) ôm chầu. Về ngũ hành ta thấy huyền vũ hình mộc (giải) sinh hỏa (nhọn). Hỏa lại sinh thổ (vuông) là nơi có huyệt trường. Huyệt trường vuông (thổ) lại sinh ra chiêng trống hình tròn (kim) dàn ở hai bên huyệt. Ngoài ra, còn cờ bảng ở tay Long nữa. Như vậy, là đất phát tới kế thế công hầu.

ĐẤT PHÁT ĐẾ VƯƠNG

(77) NGŨ TINH CÁCH TÚ CHIỀU NGUYÊN

(78)KIM, MỘC, THỦY, HỎA BỐN BÊN LOAN HOÀN

(79) THỔ TINH KẾT HUYỆT TRUNG ƯƠNG

(80) ẤY ĐẤT SINH THÁNH SINH VƯƠNG ĐỜI ĐỜI

(81) THIÊN SƠN VẠN THỦY CHIỀU LAI

(82) CAN CHI BÁT QUÁI TRONG NGOÀI TÔN NGHINH

HÌNH MINH HỌA TRANG 50

LỜI BÀN: Càng nhiều hình thế thuộc ngũ hành ở đúng hướng càng phát lớn. Trên 3 tầng Long Hổ, trên 3 án, trên 3 đột Huyền Vũ và trên 3 Minh Đường là có thể phát đến đế vương.

Các chứng ứng ở xung quanh huyệt mà nằm đúng ngũ hành vi trí của nó càng chứng tỏ huyệt kết Minh quân có lương tướng. Hình trên ta thấy hướng Bắc có 3 hình Thủy, hướng Nam có 3 hình Hỏa, hướng Đông 3 hình Mộc, hướng Tây 3 hình Kim, Thổ ở giữa.

CHƯƠNG THỨ BẨY: PHƯỚC DUYÊN CỦA NGƯỜI ĐƯỢC ĐẤT

(85) NGÔI ĐẾ VƯƠNG MẶT TRỜI CHẲNG GIÁM

(86) HUYỆT CÔNG KHANH KHÔNG KIẾM AI CHO

(87) ĐẤT KHAI HOA NHÌN XEM CHO KỸ

(88) THẤY THÌ LÀM CHỚ ĐỂ LƯU TÂM

(89) TRÊN SƠN CƯỚC XA XĂM CŨNG TÁNG

(90) DƯỚI BÌNH DƯƠNG NỬA THÁNG CŨNG ĐI

(91) MINH SINH ÁM TỬ VÔ DI

(92) COI ĐI COI LẠI QUẢN CHI NHỌC NHẰN

(93) QUẢ NHIÊN HUYỆT CHÍNH LONG CHÂN

(94) TIÊU SA NẠP THỦY CHỚ LẦM MỘT LY

(95) TÁNG THÔI PHÚC LÝ TUY CHI

(96) TRÂM ANH BẤT TUYỆT THƯ THI GIA TRUYỀN

Những kiểu đất quá lớn sinh được Thánh Vương đã đành không dá nghĩ đến, mà ngay những kiểu đất Đế Vương những người ít đức cũng nên làm ngơ để đó cho Trời sắp đặt.

(85) NGÔI ĐẾ VƯƠNG MẶC TRỜI XẾP ĐẶT

Tuy nhiên Công Hầu, Khanh, Tướng không phải là người không có: những vị phúc đức có thể hy vọng lắm. Ngay những người phúc đức vừa phải nếu được ngôi đất Công Hầu, Khanh, Tướng mà biết tu thân tạo đức thì chỉ gặp gian truôn trắc trở một thời gian đầu rồi sau cũng được hưởng đất đó.

(86) HUYỆT CÔNG KHANH KHÔNG KIẾM AI CHO 

Ở những tay Long Hổ, Án, Sa những ngôi đất Đế Vương trông có rất nhiều đất kết Công, Hầu, Khanh, Tướng. Nó là kiểu bằng của kiểu chính: 

(87) ĐẤT KHAI HOA NHÌN XEM CHO KỸ

(88) THẤY THÌ LÀM CHỚ ĐỂ LƯU TÂM 

(89)TRÊN SƠN CƯỚC XA XĂM CŨNG TÁNG

(90) DƯỚI BÌNH DƯƠNG NỬA THÁNG CŨNG ĐI

Hoa là phần tinh túy của cây do nhựa cây tạo ra thì đất có tụ khí ở bên trong cũng có thể tụ kết ở đâu để hiện ra huyệt kết Oa, Kiềm, Nhũ, Đột những huyệt kết này là tinh hoa của đất hay là hoa địa của đất.

Đất khai hoa là kiểu đất nếu thấy thì nên làm tùy duyên, tùy đức, cho những ai có duyên, có đức.

(87) ĐẤT KHAI HOA NHÌN XEM CHO KỸ

(88) THẤY THÌ LÀM CHỚ ĐỂ LƯU TÂM

(89) TRÊN SƠN CƯỚC XA XĂM CŨNG TÁNG

(90) DƯỚI BÌNH DƯƠNG NỬA THÁNG CŨNG ĐI

-Kiếm được đất tốt rồi muốn để mả phải điểm huyệt. Điểm huyệt là kiếm chỗ nào tụ khí ở huyệt tràng mà chôn xương người chết xuống đó.

Khi điểm huyệt phải phân kim làm sao thu được cái sáng, cái sinh của Sa lẫn Thủy và tiêu được khí xấu khí ác của sa, thủy đi. Làm như vậy gọi là: thu minh sinh, phóng ám tử. Những sách địa lý viết tiếp của chúng tôi sẽ nói đến phân kim.

(91) MINH SINH ÁM TỬ VÔ DI

Việc phân kim,(thiếu chữ ..)chu minh sinh phóng ám tử rất khó khăn nhọc nhằn, vì phải cân nhắc cho thật kỹ, càng kỹ càng kết, cần chỉ làm một lần xong tác phẩm đó chứ không để mả xuống rồi thấy sai lại đào lên làm lại.

(92) COI ĐI COI LẠI QUẢN CHI NHỌC NHẰN

Nếu có huyệt tốt mà tiêu sa nạp thủy rất đúng không lầm lỗi gì cả thì:

(93) QUẢ NHIÊN HUYỆT CHÍNH LONG CHÂN

(94) TIÊU SA NẠP THỦY CHỚ LẦM MỘT LY

Và sa khi táng xong ta phải mừng là phúc thì đã giúp cho được đất có môt phần và nhờ sự tận tâm của thầy địa lý một lần nữa. Bởi vì được đất rồi dù gia thế trước kia có hèn kém cũng có thể trở nên trâm anh thế phiệt, con cháu gần xa đều được hưởng. Đất phát văn thì làm quan văn, đất phát võ thì hiển đạt về nghiệp võ và đất phát phú thì giàu có đời đời.

(95) TÁNG THÔI PHÚC LÝ TÙY CHI

(96) TRÂM ANH THẾ PHIỆT THƯ THI GIA TRUYỀN

Trong truyện kiều, Nguyễn Du nói nhà Kim Trọng được đất phát văn như sau:

Nền phú quý bậc tài danh

Văn chương nếp đất thông minh tính trời

Phong tư tài mạo tuyệt với

Vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa

Việc để đất quan trọng là như thế, cho nên những ai muốn có đất tốt cho ông cha, chớ nên coi thường. Muốn kiếm một ngôi đất lớn không phải dễ. Trước tiên phải kiếm thầy giỏi sau nữa thầy địa lý phải kỳ công kiếm đất rồi điểm huyệt, phân kim cho thật chu đáo mới có hy vọng. Vì vậy thiếu chi người (thiếu chữ ..) để đất mả, đã mấy người được toại nguyện.

Một thầy địa lý có khi phải dụng công học hoi, nghiên cứu cả đời người cũng chưa chắc đã làm toàn vẹn được, nếu họ không phải là học được phép địa lý chính tông.

Thầy chính tông hiện nay rất khó hiếm nhưng địa đạo diễn ca của cụ Tả Ao mà chúng tôi trình bày đây đều được các cụ giỏi địa lý công nhận là căn bản chính tông địa lý. Chúng ta chỉ cần phát huy cho hết dụng ý của nó cũng là ích lợi lắm rồi.

CHƯƠNG THỨ TÁM: NÓI VỀ LÝ KHÍ

(97) MUỐN CHO CON TRƯỞNG PHÁT TIÊN

(98) THÌ TÌM LONG NỘI ĐẤT LIỀN QUÁ CUNG

(99) THANH LONG LIÊN CHÂU CAO PHONG

(100) KIM TINH THỔ PHỤ PHÁT GIÒNG TRƯỞNG NAM

(101) CON GÁI VỀ BÊN HỔ SƠN

(102) HỔ CAO THÌ PHÁT SƠN BÀN CHO THÔNG

(103) PHẢN HỔ CON GÁI LỘN CHỒNG

(104) PHẢN LONG TRAI NÓ RA LÒNG BẤT NHÂN

(105) VÔ LONG NHƯ NGƯỜI VÔ chân

(106) VÔ HỔ NHƯ ĐỨA Ở TRẦN KHÔNG TAY

(107) TRÔNG LONG HỔ LẤY LÀM THẦY TRƯỚC

(108) SAU SẼ TÌM LẤY CHỖ HUYỆT CHÔN

(109) NƯỚC CHĂNG TỤ ĐƯỜNG KỂ CHI

(110) KIẾM ĂN CŨNG KHÁ XONG THÌ LẠI KHÔNG

(111) CON TRAI THÌ Ở BẤT TRUNG

(112) CON GÁI THẤT TIẾT CHẢ DÙNG CẢ HAI

Phần này cụ Tả Ao đề cập đến lý khí:

Cái thế Long đi ở Việt Nam hay tạo ra những kiểu đất “ trường bại thư thành’ nghĩa là con trưởng hèn kém nghèo khó và con thứ lại giàu sang quyền quý. Nhiều người để đất muốn xin thầy kiếm cho ngôi đất nâng ngành trưởng lên.

Cụ Tả Ao chỉ cho phép tìm đất cho con trưởng phát dưới đây; 

(97) MUỐN CHO CON TRƯỞNG PHÁT TIÊN

(98) THÌ TÌM LONG NỘI ĐẤT LIỀN QUÁ CUNG

Có nghĩa là muốn cho con trưởng phát trước thì nên tìm kiểu đất mà tay Long ở bên trong cùng tức là Long Nội (nhiều kiểu đất có nhiều tầng Long Hổ) dài ra ôm vòng tới trước án hay tay Long có đoạn cuối nổi lên như cái gò làm Án. Được kiểu đất như vậy con trưởng sẽ phát trước con thứ.

Trên kia là cách để đất cho con trưởng phát, hưởng trước nhưng nếu muốn con trưởng phát lớn thì phải kén đất:

(99) THANH LONG LIÊN CHÂU CAO PHONG

(100) KIM TINH THỔ PHỤ PHÁT GIÒNG TRƯỞNG NAM

Đó là kiểu đất trên tay Long nổi lên những ụ cao tròn liền nhau (liên châu cao phong).

Trên tay Long có gò cao tròn (kim) hay vuông (thổ) cũng đều tốt.

Còn nói đến con gái và con thứ phải nói đến tay Hổ

(101) CON GÁI VỀ BÊN HỔ SƠN

(102) HỔ CAO THÌ PHÁT SƠN BÀN CHO THÔNG

Hổ sơn là tay hổ của huyệt. Nó là tay phải của huyệt ôm vòng vào trước huyệt. Tay hổ có ụ cao thì tốt. Long càng dài nhọn thì hổ càng cao, thùy đầu càng tốt. Trên tay hổ có khúc nào cao lên đúng vị trí cần thiết, ứng vào người gái trưởng, gái thứ, gái út thì người con gái đó sẽ phát.

Ở hướng Tốn con gái trưởng phát

Hướng Ly con gái thứ phát

Hương Đoài con gái út phát

Câu “ hổ cao thì phát” đã nói ròi còn câu “sơn bàn cho thông” ta phải hiểu rằng cụ Tả Ao khuyên ta nên hiểu và biết cắt nghĩa cho thông hình dáng của núi gò đống. Tất cả gọi là sơn bàn của cuộc đất.

Tay Long và tay Hổ còn phải luôn luôn ôm chầu về huyệt. nếu tay Long Hổ mà quay ra (phản long hay phản hổ) hoặc phá nhau, đâm vào nhau (Long Hổ kinh quyền) thì rất xấu. Cụ Tả Ao cắt nghĩa ở câu:

(103)PHẢN HỔ CON GÁI LỘN CHỒNG

(104) PHẢN LONG TRAI NÓ RA LÒNG BẤT NHÂN

Đất phản hổ thì con cái không được đoan chính hay đường chồng con rất xấu, nếu không thì con gái cũng bị tai nạn hình thương, còn đất phản long thì con trai lông bông, vô tình với gia đình xã hội bất nhân bạc ác hay bị khắc hại.

Phản Long phản Hổ ta đã bàn rồi. Thế mà Long Hổ nhiều khi còn xảy ra trường hợp đặc biệt khác nữa: Như kiểu đất thiếu một tay Long hay thiếu một tay Hổ.

(105) VÔ LONG NHƯ NGƯỜI VÔ CHÂN

(106) VÔ HỔ NHƯ ĐỨA Ở TRẦN KHÔNG TAY

Thật vậy, trong một kiểu đất mà thiếu một tay Long hay một tay Hổ trông nó lệch lạc khó coi làm sao. Khi nhìn nó ta có cảm tưởng như nhìn một người thiếu một tay hay thiếu một chân.

Đây là loại đất đặc biệt, vô Long vô Hổ thì có tôi, nhưng thay vào tay Long tay Hổ, khiếm khuyết đó, mà có một giòng nước hay ngoại Long, ngoại Hổ bổ khuyết thì cũng có thể có đất to. Tuy nhiên đất này đôi khi trong nhà trong giòng họ vẫn có người tội lỗi, bệnh tật kinh niên. Như thế là họ gánh cái xấu cho những người khác. Họ là người đáng thương của giòng họ nào có kiểu đất vô Long hoặc vô Hổ.

Long Hổ không cân đối ta cũng nên bàn thêm là:

Đất có tay Long dài thì vượng về phần âm

Đất có tay Hổ dài thì vượng về dương cơ

Long Hổ là con cháu cửa nhà được đất kết nên phải cho là quan trọng. Do đó khi được đất kết rồi, trước khi điểm huyệt, phân kim phải cân nhắc lại sơn bàn về Long Hổ cho kỹ.

(107) TRÔNG LONG HỔ LẤY LÀM THẦY TRƯỚC

(108) SAU SẼ TÌM LẤY CHỖ HUYỆT CHÔN

Phần linh tinh sau cùng này cụ Tả Ao nhấn lại và thêm ý kiến cho những gì quan trọng mà cụ đã nối qua ở trên. Sau khi nhấn thêm về Long Hổ rồi cụ lại đề cập đến Minh Đường một lần nữa.

(109) NƯỚC CHẲNG TỤ ĐƯỜNG KỂ CHI

(110) KIẾM ĂN CŨNG KHÁ XONG THÌ LẠI KHÔNG

(111) CON TRAI THÌ Ở BẤT TRUNG

(112) CON GÁI THẤT TIẾT CHẢ DÙNG CẢ HAI

Có nghĩa là Minh Đường cần nhất là phải có thủy tụ thì mới có tiền, mới giầu có được. Nếu Minh Đường mà không có nước thì có làm mà không hưởng.

(109) NƯỚC CHẲNG TỤ ĐƯỜNG KỂ CHI

(110) KIẾM ĂN CŨNG KHÁ XONG THÌ LẠI KHÔNG

Về phẩm của nước thì khi Minh Đường có nước trong sẽ tốt hơn Minh Đường nước đục.

Minh Đường rộng lớn quanh năm tụ thủy mà lại trong đẹp như mặt gương là loại Minh Đường quý.

Con cái nhà đó sẽ học giỏi thông minh.

Trái lại lòng Minh Đường lệch lạc nghiêng chệch không tụ nước thì ứng vào trai bất trung, gái thất tiết.

(111) CON TRAI THÌ Ở BẤT TRUNG

(112) CON GÁI THẤT TIẾT CHẢ DÙNG CẢ HAI

Cũng nên bàn thêm về nội Minh Đường và ngoại Minh Đường cho đầy đủ hơn.

Ta đã biết trước huyệt có Án chiều về. Vậy cứ lấy Án gần huyệt làm đích phân ra nội Minh Đường và ngoại Minh Đường.

Nội Minh Đường là loại Minh Đường nằm trước huyệt sau Án gần nhất. Còn ngoại Minh Đương là những chỗ nước tụ ở ngoài Án đó. Có nội, ngoại Minh Đường thì cũng có thể có nội án và ngoại án.

Cần nhất là nội Minh Đường phải có nước. Còn (thiếu chữ.. )Minh Đường càng có nhiều càng tốt. có ít cũng không sao. 

Đất to có ba Minh Đường trở lên và không dưới ba tầng Long Hổ.

CHƯƠNG THỨ CHÍN: KẾT LUẬN

(113) THẤY ĐÂU LONG HỔ CHIỀU LAI

(114) MINH ĐƯỜNG THỦY TỤ HUYỆT TÀI MỚI HAY

(115) TIỀN QUAN, HẬU QUỶ SẮP BẦY

(116) ÁN DÀY MUỐN THẤP, CHIỀU DÀY PHẢI CAO

(117) XEM HUYỆT NÀO LÀM CHO PHẢI PHÉP

(118) CHỚ ĐÀO SÂU MÀ THIỆT NHƯ KHÔNG

(119) KÌA AI ĐỊA LÝ VÔ TÔNG

(120) CHẲNG CỨ ĐÚNG PHÉP CŨNG GIÒNG VÔ SƯ

Tới đây là phần kết luận. Phần này có 8 câu thì 4 câu ôn lại đại cương một huyệt kết và 4 câu dưới là kết luận của quyển Địa Đạo – Diễn Ca này.

Trong 4 câu đầu cụ Tả Ao nói: Sau khi Tầm Long thấy huyệt kết rồi, phải xem có Thanh Long bên trái và Bạch Hổ bên phải hầu vào huyệt:

(113) THẤY ĐÂU LONG HỔ CHIỀU LAI

Rồi trước huyệt phải có Minh Đường có nước tụ ở đó.

(114) MINH ĐƯỜNG THỦY TỤ HUYỆT TÀI MỚI HAY

Trước và sau huyệt phải có tiền qua hậu quỷ nghinh, tống. Tiền quan ở trước huyệt thì nghinh đón và hậu quỷ ở sau huyệt thì hộ tống.

Quan quỷ là các chứng ứng nổi lên ở trước và sau huyệt để thêm tôn quý, nó là các sơn có nhiều hình thể khác nhau giống hình gì thì gọi hình đó như bút, kiếm, ấn, voi, ngựa, chiêng, trống (thiếu chữ…)ở trước và sau huyệt.

(115) TIỀN QUAN HẬU QUỶ SẮP BẦY

Ba câu 113,114,115 là tóm tắt những điều quan trọng cho một huyệt kết. Cụ Tả Ao đã tả nó một cách nôm na hơn như sau:

Hai bên ruộng đỗ, dưới có lỗ cấy chiêm

Đôi bên lưỡi liềm quơ lại

Có nghĩa là người tầm long theo mạch đất, xuôi theo chiều nước chảy ( hay xuôi theo chiều ruộng cao xuống chiều ruộng thấp) mà lần mò cho tới nơi có đất kết (nơi long đình khí chỉ) nếu thấy chỗ đó có ruộng Cấy Chiêm mà hai bên có ruộng trồng màu như ngô, khoai, đỗ:

Bên trên ruộng đỗ, dưới có lỗ cấy chiêm

Lại nhìn 2 bên ruộng đỗ nếu là hai tay long hổ thì nó phải ôm chầu vào huyệt trông như hai cái lưỡi liềm quơ lại:

Đôi bên lưỡi liềm quơ lại

Thì chỗ đó dễ có đất kết vì lỗ cấy chiêm là minh đường và ruộng đỗ ruộng màu ở hai bên là long hổ.

Trên là sự cân đối về bề mặt còn về chiều cao thấp của một kiểu đất kết cũng cần phải có một thứ tự hữu lý như sau:

Bao nhiêu những gò đống, chứng ứng gần huyệt như Án phải cao bằng từ mặt đến rốn người ngồi ở huyệt.

Còn chứng ứng ở xa thì phải theo thứ tự càng xa càng cao:

(116) ÁN DÀY MUỐN THẤP, CHIỀU DÀY PHẢI CAO

Có nghãi là Án so sánh với Chiều thì Án phải thấp hơn Chiều, Chiều là gò đống ở xa chầu về và Án là gò đống ở trước huyệt chầu về.

Còn 4 câu chót thì hau câu trên cụ Tả Ao nhắn nhủ ta phải cẩn thận về việc đào huyệt:

(117) XEM HUYỆT NÀO ĐÀO CHO PHẢI PHÉP

(118) CHỚ ĐÀO SÂU MÀ THIỆT NHƯ KHÔNG

Một huyệt đào nông quá thì lâu mới quán khí, mà đào sâu quá thì khí mạch đi mất, có huyệt kết cũng như không.

Thật ra huyệt đào nông sau phải cân nhắc theo chiều cao của Minh Đường, Án, Long, Hổ, nước âm mạch và giao thổ mới đúng.

Tuy nhiên nếu lấy giao thổ làm đích thì cũng không mấy khi hỏng. Giao thổ là những lớp đất thứ hai và thứ ba (nếu lớp đất trên cùng là do lá, bụi, lâu năm phủ lên).

Ta đã biết đào nông thì lâu kết và đào sâu quá thì mất cả, vậy nên nhằm chiều nông hơn nhằm chiều sâu.

Tất cả những gì đã trình bày từ câu thứ nhất đến câu 118 với sự bổ túc của soạn giả có thể giúp các bạn ưa khoa này nắm bắt được một số yếu lý căn bản của khoa Địa Lý, mà đây thuộc về loại Địa Lý chính tông. Với số vốn quý giá này dùng làm tài liệu để học thêm các sách Địa lý cũng có thể phân biệt điều đúng điều sai. Khoa địa lý gần như thất truyền phép chính tông nên các cụ gajwpp man thư hay man ngôn rất nhiều. Có man thư và man ngôn tất nhiên phải có man sư là loại thầy địa lý không phải chính tông. Họ không giúp ịch được cho người để đất mà còn nhiều khi gây tai hại cho giòng họ nhờ thầy để đất nữa.

Loại thầy được truyền nghề không phải chính tông cụ Tả Ao gọi là “vô tông:.

Còn loại thầy Địa lý tự học lấy dù có một vài khi đúng phép xong không được toàn vẹn cụ Tả Ao gọi họ là “vô sư”.

Do đó cụ Tả Ao phê bình như trên ở câu cuối cùng:

(119) KÌA AI ĐỊA LÝ VÔ TÔNG

(120) CHẲNG CỨ ĐÚNG PHÉP CŨNG GIÒNG VÔ SƯ

Và cũng vì sợ khoa địa lý trở nên tàn tạ vì những man thư nên tác giải cố gắng trình bày, chỉ trình bày những gì là chính tông. Những gì viết ở quyển này đã được các nhà địa lý chính tông và tài giỏi cân nhắc sửa chữa nhiều lần. Những chi tiết nào mơ hồ hay có thể đưa đến sự sai nhầm thì dù có hay mấy, chúng tôi cũng không để ở quyển Địa lý nhập môn này. Ngày nay kiếm được thầy địa lý chính tông để học khoa địa lý thật khó nhưng sách địa lý này có thể bảo đảm là chính tông có thể dùng xác định được sự đúng sai của các sách địa lý khác.

Hiểu đến đây các bạn đã có tạm đủ ý thức căn bản địa lý của người mới học. Cần theo lời cụ Tả Ao ở câu “chẳng qua ra đến ngoài đồng, tỏ mạch, tỏ nước, tỏ long mới tường” mà tập thực hành tầm long tróc mạch ở ngoài trời, ngoài đồng để cho quen việc tìm ra huyệt tràng và huyệt kết. Mới đầu chưa cần dùng đến la kinh mà chỉ cần cái tróc long có kim chỉ nam ở giữa và ba vòng thiên bàn, địa bàn, nhân bàn ở ngoài là đủ. Các bạn có thể tự làm lấy một cái tróc long bằng cách dùng một cái kim chỉ nam đặt vào giữa một miếng các tông vẽ ba vòng tròn.

Tại ba vòng tròn, mỗi vòng chia làm 24 ô đều nhau (nên nhớ chia ô ở vòng ngoài cùng và vòng giữa, chệch nửa ô (7,5 độ) với vòng trong cùng và ghi 24 chữ: Mão, Ất, Thìn, Tốn, Tỵ, Bính, Ngọ, Đinh, Mùi, Khôn – Thân, Canh, Dậu, Tân, Tuất, Càn, Hợi, Nhâm, Tý, Quý, Sửu, Cấn, Dần, Giáp (ghi theo thứ tự chiều kim đồng hồ quay (chiều thuận) vào 24 ô như chỉ dẫn ở câu “bốn là mở sách la bàn cho thông” trang 22 là các bạn đã tạm có cái tróc long rồi. Chúng tôi thấy có người vẽ ngay lên mặt kính của kim chỉ nam 24 ô làm vòng địa bàn còn thiên bàn và nhân bàn họ dùng giữa ô của địa bàn làm đích cũng tạm dùng được. Trước tiên các bạn kiếm những mả xây lớn (ghi là kết) ở giữa đồng mang tróc long lại coi thử. Sau các bạn thấy đất nào có vẻ có long hổ minh đường thì lại tìm cho quen. Sau nữa đến giai đoạn tự ý theo long mạch đi tìm đất kết.

HẾT

CaoTrung