Huyền không phi tinh toàn tập – phần 1

312

Huyền không phi tinh là môn Phong thủy dựa vào sự di chuyển của 9 con số theo quỹ đạo của vòng Lượng thiên Xích trên đồ hình Bát quái mà đoán định sự cát, hung, được, mất của từng căn nhà (dương trạch) hay phần mộ (âm trạch).

Có thể nói Bát quái chính là sự thu tóm những biến chuyển của Trời, Đất, còn sự di chuyển của Cửu tinh theo vòng Lượng thiên Xích chính là những biến hóa, thay đổi của sự vật. Và có tác động, ảnh hưởng tới 1 căn nhà hay 1 ngôi mộ vì vậy dựa vào Cửu tinh ta sẽ biết được vận khí tốt, xấu của căn nhà hay ngôi mộ đó theo từng thời gian nhất định. Đây chính là bản chất của trường phái Phong thủy Huyền Không Phi tinh.

1. Sơn, Hướng, và Nguyên Long

1.1 Sơn hướng và nguyên long

Hậu thiên Bát quái của Văn Vương được chia làm 8 hướng đều nhau, với mỗi hướng đi liền với một số của Cửu tinh: hướng BẮC (số 1), ĐÔNG BẮC (số 8), ĐÔNG (số 3), ĐÔNG NAM (số 4), NAM (số 9), TÂY NAM (số 2), TÂY (số 7) , TÂY BẮC (số 6). Riêng số 5 vì nằm ở chính giữa (trung cung) nêm không có phương hướng.

Mỗi cung trong Bát quái lại chia làm 3 cung nhỏ. Trên la bàn sẽ được 24 cung. Người ta lại dùng 12 Địa Chi, 8 Thiên Can (đúng ra là 10, nhưng 2 Can Mậu-Kỷ được quy về trung cung cho Ngũ Hoàng nên chỉ còn 8 Can) và 4 quẻ Càn-Khôn- Cấn-Tốn mà đặt tên cho 24 sơn như sau:

HƯỚNG TINHĐịa nguyên longThiên nguyên longNhân nguyên long
số 1: BẮC: Gồm 3 sơnNHÂM (+)TÝ (-)QUÝ (-)
số 2 TÂY NAM: 3 sơnMÙI (-)KHÔN (+)THÂN (+)
số 3 ĐÔNG: 3 sơnGIÁP (+)MÃO (-)ẤT (-)
số 4 ĐÔNG NAM: 3 sơnTHÌN (-)TỐN (+)TỴ (+)
số 5 TRUNG CUNG 
số 6 TÂY BẮC: 3 sơnTUẤT (-)CÀN (+)HỢI (+)
số 7 TÂY: 3 sơnCANH (+)DẬU (-)TÂN (-)
số 8 ĐÔNG BẮC: 3 sơnSỬU (-)CẤN (+)DẦN (+)
số 9 NAM: 3 sơnBÍNH (+)NGỌ (-)ĐINH (-)

Bảng Tam nguyên Long để xét âm dương cho Hướng

SƠN TINHĐỊA NGUYÊN LONGTHIÊN NGUYÊN LONGNHÂN NGUYÊN LONG
Sơn dương  (+)GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNHCÀN, KHÔN, CẤN, TỐNDẦN, THÂN, TỴ, HỢI
Sơn âm (-)THÌN, TUẤT, SỬU, MÙITÝ, NGỌ, MÃO, DẬUẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ

Bảng Tam nguyên Long để xét âm dương cho Sơn

  • Tất cả 24 sơn trên la bàn đều được xếp theo thứ tự từ trái sang phải theo chiều kim đồng hồ. Chẳng hạn như hướng BẮC có 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝ, sơn NHÂM chiếm 15 độ phía bên trái, sơn TÝ chiếm 15 độ nơi chính giữa hướng BẮC, còn sơn QUÝ thì chiếm 15 độ phía bên phải. Tất cả các sơn khác cũng đều theo thứ tự như thế.
  • Mỗi sơn được xác định với số độ chính giữa như: sơn NHÂM tại 345 độ; TÝ 360 độ hay 0 độ; QUÝ 15 độ; SỬU 30 độ; CẤN 45 độ; DẦN 60 độ; GIÁP 75 độ; MÃO 90 độ; ẤT 105 độ; THÌN 120 độ; TỐN 135 đô; TỴ 150 độ; BÍNH 165 độ; NGỌ 180 độ; ĐINH 195 độ; MÙI 210 độ; KHÔN 225 độ; THÂN 240 độ; CANH 255 độ; DẬU 270 độ; TÂN 285 độ; TUẤT 300 độ; CÀN 315 độ; HỢI 330 độ;
  • Phần trên là tọa độ chính giữa của 24 sơn. Từ tọa độ đó người ta có thể tìm ra phạm vi của mổi sơn chiếm đóng trên la bàn, bằng cách đi ngược sang bên trái, cũng như sang bên phải của tọa độ trung tâm, mỗi bên là 7 độ 5 (vì phạm vi mổi sơn chỉ có 15 độ). Chẳng hạn như hướng MÙI có tọa độ trung tâm là 210 độ. Nếu đi ngược sang bên trái 7 độ 5 (tức là trừ đi 7 độ 5) thì được 202 độ 5. Sau đó từ tọa độ trung tâm là 210 độ lại đi thuận qua phải 7 độ 5 (tức là cộng thêm 7 độ 5) thì được 217 độ 5. Như vậy phạm vi sơn MÙI sẽ bắt đầu từ 202 độ 5 và chấm dứt tại 217 độ 5 trên la bàn.

1.2. Chính Hướng và Kiêm Hướng

Một vấn đề làm cho người mới học Phong thủy khá bối rối là thế nào là Chính Hướng và kiêm Hướng? Thật ra, điều này cũng không khó khăn gì cả, vì khi đo hướng nhà (hay hướng mộ) mà nếu thấy hướng nhà (hay hướng mộ đó) nằm tại tọa độ trung tâm của 1 sơn (bất kể là sơn nào) thì đều được coi là Chính Hướng. Còn nếu không đúng với tọa độ tâm điểm của 1 sơn thì được coi là Kiêm Hướng. Kiêm hướng lại chia ra là kiêm bên phải hoặc kiêm bên trái, rồi kiêm nhiều hay kiêm ít.

Nếu kiêm bên phải hoặc kiêm bên trái thì hướng nhà không được xem là thuần khí nữa, vì đã lấn sang phạm vi của sơn bên cạnh (điều này sẽ nói rõ hơn trong phần Tam nguyên long). Nói kiêm phải hay kiêm trái là lấy tọa độ tâm điểm của mổi sơn làm trung tâm mà tính. Chẳng hạn như sơn MÙI có tọa độ trung tâm là 210 độ. Nếu bây giờ 1 căn nhà có hướng là 215 độ thì nhà đó thuộc hướng MÙI (vì sơn MÙI bắt đầu từ khoảng 202 độ 5 và chấm dứt tại 217 độ 5), nhưng kiêm bên phải 5 độ. Nhưng trong thuật ngữ Phong thủy thì người ta lại không nói kiêm phải hoặc trái, mà lại dùng tên của những hướng được kiêm để gọi nhập chung với hướng của ngôi nhà đó. Như trong trường hợp này là nhà hướng MÙI kiêm phải 5 độ, nhưng vì hướng bên phải của hướng hướng MÙI là hướng KHÔN, nên người ta sẽ nói nhà này “hướng MÙI kiêm KHÔN 5 độ” tức là kiêm sang bên phải 5 độ mà thôi.

Riêng với vấn đề kiêm nhiều hay ít thì 1 hướng nếu chỉ lệch sang bên phải hoặc bên trái khoảng 3 độ so với tọa độ tâm điểm của hướng đó thì được coi là kiêm ít, và vẫn còn giữa được thuần khí của hướng. Còn nếu lệch quá 3 độ so với trung tâm của 1 hướng thì được coi là lệch nhiều, nên khí lúc đó không thuần và coi như bị nhận nhiều tạp khí. Những trường hợp này cần được dùng Thế quái (hay số thế, sẽ nói trong 1 dịp khác) để hy vọng đem được vượng khí tới hướng hầu biến hung thành cát mà thôi.

1.3 Tam nguyên long

Tam nguyên long bao gồm: Địa nguyên longThiên nguyên long, và Nhân nguyên long. Mỗi Nguyên bao gồm 8 sơn (hay 8 hướng), trong đó có 4 sơn dương và 4 sơn âm như sau:

  • THIÊN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn :
    • 4 sơn dương: CÀN, KHÔN, CẤN, TỐN.
    • 4 sơn âm: TÝ, NGỌ, MÃO, DẬU.
  • ĐỊA NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:
    • 4 sơn dương: GIÁP, CANH, NHÂM, BÍNH.
    • 4 sơn âm: THÌN, TUẤT, SỬU, MÙI.
  • NHÂN NGUYÊN LONG: bao gồm 8 sơn:
    • 4 sơn dương: DẦN, THÂN, TỴ, HỢI.
    • 4 sơn âm: ẤT, TÂN, ĐINH, QUÝ.

Với sự phân định âm hay dương của mỗi hướng như trên, người ta có thể biết được lúc nào phi tinh sẽ đi thuận hoặc đi nghịch khi xoay chuyển chúng theo vòng LƯỢNG THIÊN XÍCH.

Ngoài ra, nếu nhìn kỹ vào sự phân chia của Tam nguyên Long ta sẽ thấy trong mổi hướng của Bát quái được chia thành 3 sơn, và bao gồm đủ ba Nguyên: ĐịaThiên và Nhân, theo chiều kim đồng hồ.

  • Ví dụ: Như hướng BẮC được chia thành 3 sơn là NHÂM-TÝ-QUÝ
    với NHÂM thuộc Địa nguyên long (trái) Nghịch tử
    TÝ thuộc Thiên nguyên long (giữa) quẻ Phụ mẫu
    và QUÝ thuộc Nhân nguyên long (phải) Thuận tử

Các hướng còn lại cũng đều như thế, nghĩa là Thiên nguyên long ở chính giữa, Địa nguyên long nằm bên phía tay trái, còn Nhân nguyên long thì nằm bên phía tay phải. Từ đó người ta mới phân biệt ra Thiên nguyên long là quẻ Phụ mẫu, Địa nguyên long là Nghịch tử (vì nằm bên tay trái của Thiên nguyên long tức là nghịch chiều xoay chuyển của vạn vật), còn Nhân nguyên long là Thuận tử. Trong 3 nguyên Địa-Thiên-Nhân thì Thiên và Nhân là có thể kiêm được với nhau (vì là giữa phụ mẫu và thuận tử). Còn Địa nguyên long là nghịch tử chỉ có thể đứng 1 mình, không thể kiêm phụ mẫu hay thuận tử. Nếu Địa kiêm Thiên tức là âm dương lẫn lộn (hay âm dương sai thố). Nếu Địa kiêm Nhân thì sẽ bị xuất quái.

  • Ví dụ: Nhà hướng MÙI 205 độ. Vì hướng MÙI bắt đầu từ 202 độ 5, nên nhà hướng 205 độ cũng vẫn nằm trong hướng MÙI, nhưng kiêm sang phía bên trái 5 độ, tức là kiêm hướng Đinh 5 độ. Vì hướng MÙI là thuộc Địa nguyên long (tức Nghịch tử), chỉ có thể lấy chính hướng (210 độ) chứ không thể kiêm, cho nên trường hợp này là bị phạm xuất quái, chủ tai họa, bần tiện. Ngược lại, nếu 1 căn nhà có hướng là 185 độ, tức là hướng NGỌ kiêm ĐINH 5 độ. Vì NGỌ là quẻ Phụ mẫu, kiêm sang bên phải tức là kiêm Thuận tử nên nhà như thế vẫn tốt chứ không xấu. Đây là 1 trong những yếu tố căn bản và quan trọng của Huyền không Học, cần phải biết và phân biệt rõ ràng. Có như vậy mới biết được tuy 2 nhà cùng 1 trạch vận, nhưng nhà thì làm ăn khá, mọi người sang trọng, có khí phách, còn nhà thì bình thường, con người cũng chỉ nhỏ mọn, tầm thường mà thôi. Cho nên sự quý, tiện của 1 căn nhà phần lớn là do có biết chọn đúng hướng hoặc biết kiêm hướng hay không mà ra. Những điều này sẽ đuoc nói rõ hơn trong phần Lập hướng và Kiêm hướng.
  • Ví dụ: Như hướng NAM được chia thành 3 sơn là BÍNH – NGỌ – ĐINH.
    với BÍNH thuộc Địa nguyên long (trái) Nghịch tử
    NGỌ thuộc Thiên nguyên long (giữa) quẻ Phụ mẫu
    và ĐINH thuộc Nhân nguyên long (phải) Thuận tử

1.4 Tam Nguyên, Cửu Vận

Một căn nhà có thể được xây dựng trên 1 mảnh đất có địa thế tốt (hoặc xấu), nhưng không phải vì thế mà nó sẽ tốt (hay xấu) vĩnh viễn, mà tùy theo biến đổi của thời gian sẽ đang từ vượng chuyển sang suy, hay đang từ suy chuyển thành vượng. Đó là lý do giải thích tại sao có nhiều gia đình khi mới vào ở 1 căn nhà thì làm ăn rất khá, nhưng 5, 10 năm sau lại bắt đầu suy thoái dần. Hay có những gia đình sau bao nhiêu năm sống trong 1 căn nhà nghèo khổ, bỗng tới lúc con cái ăn học thành tài, gia đình đột nhiên phát hẳn lên… Cho nên đối với Phong thủy Huyền Không thì không những chỉ là quan sát địa hình, địa vật bên ngoài, cấu trúc, thiết kế bên trong căn nhà, mà còn phải nắm vững từng mấu chốt của thời gian để đoán định từng giai đoạn lên, xuống của 1 trạch vận (nhà ở hay phần mộ). Nhưng thời gian là 1 chuyển biến vô hình, chỉ có đi, không bao giờ trở lại, thế thì lấy gì làm căn mốc để xác định thời gian? Để giải quyết vấn đề này, người xưa đã dùng cách chia thời gian ra thành từng Nguyên, Vận. Nguyên là 1 giai đoạn dài khoảng 60 năm hay 1 Lục thập Hoa Giáp. Mỗi Nguyên lại được chia thành 3 vận, mỗi vận kéo dài khoảng 20 năm. Mặt khác, cổ nhân còn định ra Tam Nguyên là:

  • Thượng Nguyên: bao gồm 3 vận 1, 2, 3.
  • Trung Nguyên: bao gồm 3 vận 4, 5, 6.
  • Hạ Nguyên : bao gồm 3 vận 7, 8, 9.

Như vậy, Tam Nguyên Cửu Vận tức là 3 Nguyên: Thượng, Trung, Hạ, trong đó bao gồm 9 Vận, từ Vận 1 tới Vận 9. Tổng cộng là chu kỳ 180 năm, cứ từ Vận 1 (bắt đầu vào năm GIÁP TÝ) đi hết 3 Nguyên (tức 9 Vận) rồi lại trở về Vận 1 Thượng Nguyên lúc ban đầu. Cứ như thế xoay chuyển không ngừng. Còn sở dĩ người xưa lại dùng chu kỳ 180 năm (tức Tam Nguyên Cửu Vận) làm mốc xoay chuyển của thời gian là vì các hành tinh trong Thái Dương hệ cứ sau 180 năm lại trở về cùng nằm trên 1 đường thẳng. Đó chính là năm khởi đầu cho Vận 1 của Thượng Nguyên. Dùng đó làm mốc để tính thời gian, người ta có thể suy ra Tam Nguyên Cửu Vận gần đây nhất là:

THƯỢNG NGUYÊN:
* Vận 1: từ năm 1864- 1883
* Vận 2: từ năm 1884- 1903
* Vận 3: từ năm 1904- 1923.

TRUNG NGUYÊN :
* Vận 4: từ năm 1924- 1943
* Vận 5: từ năm 1944- 1963
* Vận 6: từ năm 1964- 1983

HẠ NGUYÊN:
* Vận 7: từ năm 1984- 200
* Vận 8: từ năm 2004- 2023
* Vận 9: từ năm 2024- 2043

Như vậy, năm 2043 là năm cuối cùng của vận 9 Hạ Nguyên. Cho nên vào năm 2044 (tức năm GIÁP TÝ) thì lại trở về vận 1 của Thượng Nguyên, cứ như thế xoay chuyển mãi không ngừng. Điều quan trọng cho những ai mới học Huyền Không phi tinh là phải biết rõ năm nào thuộc Vận và Nguyên nào. Chẳng hạn như năm 1980 là thuộc về vận 6 Trung Nguyên, vì nó nằm trong giai đoạn từ năm 1964-1983. Hoặc như năm 1991 là thuộc về vận 7 Hạ Nguyên, vì nó nằm trong giai đoạn từ năm 1984- 2003. Cho nên những nhà cửa hay phần mộ xây trong năm 1991 đều thuộc về vận 7 Hạ Nguyên, hay những nhà xây năm 1980 đều thuộc về vận 6 Trung Nguyên. Có nắm vững được điều này thì mới có thể thiết lập trạch vận cho nhà cửa hay mộ phần được.

2. Phương pháp lập tinh bàn

Muốn lập tinh bàn (hay trạch vận) cho 1 căn nhà (hay 1 ngôi mộ) thì vấn đề trước tiên là phải biết căn nhà hay ngôi mộ đó được xây dựng trong năm nào, tháng nào? Rồi dựa vào bảng Tam Nguyên Cửu Vận gần đây nhất mà xác định nhà đó thuộc vận nào?

2.1 Phương pháp xác định Vận bàn

Thí dụ như 1 căn nhà được xây xong vào tháng 6 năm 1984. Nếu nhìn vào bảng Tam Nguyên Cửu Vận gần đây thì thấy Vận 7 bắt đầu từ 1984 và kết thúc vào cuối năm 2003, cho nên biết nhà đó thuộc vận 7 Hạ Nguyên.

Nhưng vấn đề xác định nhà thuộc vận nào trở nên rắc rối và phức tạp khi 1 căn nhà đã được xây xong khá lâu, sau đó được chủ nhà tu sửa hay xây lại nhiều lần. Hoặc sau khi xây xong thì căn nhà đã được đổi chủ… Đối với những căn nhà trên thì việc xác định căn nhà thuộc vận nào là phụ thuộc vào những yếu tố sau đây:

  • Nếu sau khi vào ở 1 thời gian rồi chủ nhà hoặc là dỡ mái lợp lại (nếu là nhà trệt), hoặc là tu sửa quá 1/3 diện tích căn nhà, hoặc là đập đi xây mới thì căn nhà sẽ không còn thuộc về vận cũ lúc mới xây nhà hay dọn vào nhà ở nữa, mà sẽ thuộc về vận là lúc gia chủ thực hiện những việc tu sửa trên.
  • Nếu căn nhà được đổi chủ (vì bán hoặc cho thuê) thì khi lập tinh bàn căn nhà cho chủ mới thì phải dựa vào thời điểm họ dọn vào nhà này ở, chứ không dựa vào thời điểm lúc xây nhà. Nếu 1 căn nhà được đổi chủ nhiều lần, thì khi lập tinh bàn cho người chủ nào thì chỉ dựa vào thời điểm người đó dọn vào căn nhà để ở là thuộc vận nào. Cũng lấy thí dụ căn nhà ở trên, xây xong và dọn vào ở tháng 6 năm 1984 nên căn nhà thuộc vận 7. Nhưng nếu vào năm 2000 người chủ đó bán nhà cho 1 người khác. Khi người này dọn vào ở trong năm đó thì trạch vận căn nhà vẫn thuộc vận 7 (vì vận 7 bắt đầu từ năm 1984 và kết thúc vào cuối năm 2003). Nếu người này ở tới năm 2005 rồi lại bán nhà đi nơi khác, thì khi người chủ mới dọn về nhà này thì trạch vận căn nhà của họ lại thuộc về Vận 8 (vì Vận 8 bắt đầu từ năm 2004 và kết thúc vào cuối năm 2023) Cho nên tùy thời điểm mà gia chủ dọn vào căn nhà là thuộc vận nào mà tính trạch vận cho họ thuộc vận đó.
  • Đối với những căn nhà vừa tu sửa như trường hợp 1, vừa thay đổi chủ như trường hợp 2 thì trường hợp nào xảy ra gần nhất thì trạch vận của căn nhà sẽ thuộc về Vận đó. Cũng lấy thí dụ căn nhà xây năm 1984 (nhà thuộc vận 7), sau đó bán lại cho 1 người khác vào năm 2000 (nhà vẫn thuộc vận 7). Nhưng đến năm 2004 thì người này tu sửa nhà, nên nhà lúc đó sẽ thuộc về vận 8. Đến khi người đó bán nhà vào năm 2005 thì căn nhà cũng vẫn thuộc vận 8 đối với chủ mới.
  • Đối với những căn nhà tuy không đổi chủ hay được tu sửa, nhưng nếu chủ nhà đóng cửa đi vắng 1 thời gian từ hơn 1 tháng trở lên, đến khi họ trở về thì căn nhà sẽ thuộc về Vận vào lúc họ trở về, chứ không còn thuộc về Vận cũ nữa. Cũng lấy thí dụ nhà xây năm 1984, người chủ sau khi mua ở đó được hơn 20 năm. Tới năm 2005 người đó có công chuyện phải đi xa hơn 2 tháng mới về. Như vậy khi người này trở về nhà thì lúc đó căn nhà sẽ chuyển sang thuộc về Vận 8, chứ không còn thuộc về Vận 7 nữa.
  • Đối với những căn nhà được xây hay dọn vào ở trong những năm cuối của 1 vận thì trạch vận của căn nhà thường là thộc về vận mới, chứ cũng không thuộc về vận cũ nữa. Thí dụ như những căn nhà được xây hay được dọn vào ở năm 2003, tức là năm cuối cùng của Vận 7 thì trạch vận của căn nhà sẽ thuộc về Vận 8, chứ không thuộc về Vận 7 nữa.
  • Riêng với âm phần (mồ mả), thì trạch vận được tính vào lúc ngôi mộ mới được xây, hoặc lúc sau này con cháu cải táng hay tu sửa mộ bia lại. Chẳng hạn như 1 ngôi mộ được dựng lên vào năm 1987 thì thuộc Vận 7, đến năm 2006 thì con cháu xây mộ, thay bia lại thì lúc đó mộ lại thuộc về Vận 8.

Khi đã biết cách xác định nhà (hay mộ) thuộc Vận nào thì mới có thể lập tinh bàn cho căn nhà (hay phần mộ đó).

2.1 – Hướng dẫn an Vận tinh

Trước hết lấy 1 tờ giấy trắng vẽ 1 ô vuông lớn, sau đó chia ô vuông đó ra làm 9 ô nhỏ, với 8 ô chung quanh tiêu biểu cho 8 hướng: BẮC, ĐÔNG BẮC, ĐÔNG, ĐÔNG NAM, NAM, TÂY NAM, TÂY, và TÂY BẮC. Riêng ô giữa được coi là trung cung. Sau đó mới có thể tiến hành việc lập tinh bàn.

Thời gian được chia làm 3 nguyên, gồm: Thượng nguyên, Trung nguyên và Hạ nguyên. Mỗi nguyên lại chia làm 3 Vận. Mỗi Vận là 20 năm

  • Thượng Nguyên (tổng cộng 60 năm) gồm:
    • Vận 1: 1864 – 1883 (Giáp Tý – Quý Mùi)
    • Vận 2: 1884 – 1903 (Giáp Thân – Quý Mão)
    • Vận3: 1904 – 1923 (Giáp Thìn – Quý Hợi)
  • Trung nguyên (tổng cộng 60 năm) gồm:
    • Vận 4: 924 – 1943 (Giáp Quý – Quý Mùi)
    • Vận 5: 944 – 1963 (Giáp Thân – Quý Mão)
    • Vận 6: 1964 – 1983 (Giáp Thìn – Quý Hợi)
  • Hạ nguyên (tổng cộng 60 năm) gồm:
    • Vận 7: 1984 – 2003 (Giáp Quý – Tý Mùi)
    • Vận 8: 2004 – 2023 (Giáp Thân – Quý Mão)
    • Vận 9: 2014- 2043 (Giáp Ngọ– Quý Hợi)

Tổng 3 nguyên là 180 năm. Hết hạ nguyên lại tới thượng nguyên.

Hiện tại chúng ta đang sống trong hạ nguyên;
– Vận 7 từ 1984 đến 2003
– Vận 8 từ 2004 đến 2023
– Vận 9 từ 2024 đến 2063
Đến vận của sao nào thì lấy sao đó nhập trung cung, xác định các sao khác theo vòng lường thiên xích thuận

  • Lường thiên xích thuận là: Từ Trung cung (5) bay sang (6) –> (7) –> (8)–> (9) –> (1) –> (2)–> (3)–> (4)
  • Lường thiên xích nghịch là: Từ Trung cung (5) bay sang (4) –> (3) –> (2)–> (1) –> (9) –> (8)–> (7)–> (6)
Ảnh Lường thiên xích thuận và nghịch

Thí dụ: Nay ta đang ở vận 8. Lấy số 8 nhập trung cung bay thuận ta được vận bàn như hình sau:

Tinh bàn Vận 8

2.2 – Hướng dẫn an Hướng tinh vào tinh bàn: 

Sau khi có Vận bàn ta lấy số ở Hướng nhà cho nhập trung cung, rồi cho bay thuận hay nghịch theo tính chất âm hay dương của cung nguyên thủy của sao ấy.

Ví dụ: Nhà tọa Càn, hướng Tốn (Hướng Tốn thuộc Đông Nam). Như hình Tinh bàn vận 8 ở trên. Hướng nhà có sao số 7. Ta lấy 7 nhập trung cung, Tốn là Thiên nguyên long thuộc ÂM. Nên ta cho 7 bay nghịch (thường thì hướng tinh đặt bên phải của vận tinh) ta được hình bên dưới.

2.3 Hướng dẫn an Sơn tinh vào tinh bàn

 “Sơn” chỉ khu vực sau nhà , tức phương toạ. Lấy số của Vận bàn tại phương toạ đem nhập trung cung, để ở góc bên trái. Xem Phương toạ là sơn gì? Thuộc tam nguyên long nào? âm hay dương?

Thí dụ: Vẫn lấy nhà ở trên lập tinh bàn cho vận 8, Nhà toạ Càn, có vận tinh tại Càn là 9, Tra bảng ở trên ta được: Càn thuộc Thiên nguyên long, thuộc Ngọ thuộc âm. Vì âm lên an sao theo lường thiên xích nghịch. Được tinh bàn như hình bên dưới.

Nhà trong vận 8, Nhà tọa càn (Tây Bắc, hướng tốn (Đông Nam)

Tóm tắt:

  • Lấy số của vận bàn tại toạ hoặc hướng nhập trung cung.
  • Nếu là Thiên hoặc Nhân nguyên long: Số chẵn bay thuận, số lẻ bay nghịch.
  • Nếu là Địa nguyên long: Số chẵn bay nghịch, số lẻ bay thuận

Sau khi đã có sơ đồ phi tinh, tiến hành luận đoán tốt xấu để có phương án bài trí cho phù hợp. Hai cung quan trọng nhất đó là Toạ và Hướng, bởi Hướng là nơi nạp Thiên khí vào nhà chủ quản hoạ phúc. Toạ là nơi nạp Địa khí chủ về nhân đinhhậu vận.

Mỗi cung toạ và hướng có các Phi Tinh Sơn và Hướng, căn cứ vào Sơn Tinh và Hướng Tinh kết hợp để luận đoán tốt xấu. Sau đây luận các cách kết hợp của Sơn Tinh và Hướng Tinh.
Luận phải lấy vượng làm chính, lấy suy làm ngược lại, vượng tinh thì tốt chủ cát lành, suy tinh thì chủ hung bại. Vượng tinh cần được sinh phùSuy tinh cần thu sơn xuất sát. Những cửa chính, cửa phụ được cát tinh sinh vượng chiếu nên sinh hoạt, đi lại nhiều hoặc mở cửa sổ lớn để đón khí. Trường hợp bị hung tinh suy tử chiếu thì cần có cách thức trấn yểm, hoá giải phù hợp, tốt nhất là hạn chế đi lại hoặc mở cửa ở phương khác tốt hơn.

3. Thế nào là Vượng tinh, Suy tinh

Thế nào là vượng và thế nào là suy ?

  • Vượng là khi được đắc cách (dĩ nhiên phải là sao vượng, sinh hoặc tiến khí trong vận đó) như Sơn vượng thì có núi cao. Nhà cao, cây cao….Hoặc Hướng vượng thì có thủy, trống thoáng hoặc có đường đi.
  • Suy là khi bị thất cách. Như sao Sơn vượng, Sinh hoặc tiến khí mà lại gặp thủy. Hay sao hướng Vượng, Sinh hoặc tiến khí lại gặp sơn . Sao Sơn là Tử khí mà lại gặp núi hoặc sao Hướng là Tử khí mà lại gặp thủy

Lấy ví dụ: Nhà trong vận 8

Nhà trong vận 8, ở Vị trí chính Bắc có hướng tính là số 2 thuộc tử khí. Nhưng ở hướng Bắc lại có ao, hồ, sông lớn. Trường hợp này Hướng tinh số 2 đắc Thuỷ của ao, hồ tắm lớn. Đây là trường hợp Tử khí đắc cách, nên trong nhà này vừa bị hao tài, vừa bị bệnh tật liên miên, lại còn xuất hiện quả phụ. Cho nên đàn ông trong nhà đó dễ bị vắn số.

Nhà trong vận 8

Nếu nơi đó lại có sơn tinh 3, tạo thành thế “ĐẤU NGƯU SÁT”, nên gia đình sẽ bị mắc khẩu thiệt, quan tụng liên miên. Hoặc nếu nơi đó có sơn tinh hay vận tinh 7, kết hợp với hướng tinh 2 tạo thành cặp 2-7 Hoả tiên thiên thì nhà này dễ bị xung đột hoặc trong nhà có người mắc bệnh đau tim.

Vào những năm có niên tinh 9, 7, 2 chiếu tới khu vực này thì bệnh tim càng nặng, có thể chết người. Nếu khu vực này mà lại nằm tại phía ĐÔNG hoặc ĐÔNG NAM thì vào những năm có niên tinh 4, 3 chiếu tới thì còn gặp hoả hoạn mà sản nghiệp tiêu tan nữa.

Cho nên nếu khí suy tử mà đắc cách thì ngoài vấn đề phá tài, tổn đinh thì còn bị những tai hoạ, bệnh tật khác nữa, chứ không phải chỉ là làm ăn lụn bại (trường hợp Hướng tinh “Thượng Sơn”) hoặc nhân số giảm thiểu (trường hợp Sơn tinh “Hạ thuỷ”) như các trường hợp vượng tinh thất cách, tức là mức độ tai hoạ còn nguy hiểm và trầm trọng hơn.

Vấn đề khảo sát các sao Vận-Sơn-Hướng (nhất là Sơn và Hướng) thì trước hết cần phải xét đến thời vận, xem chúng là sinh, vượng hay suy, tử. Sau đó mới xét tới hình thế Loan đầu xem chúng có đắc cách hay không? Như Sơn tinh vượng cần gặp núi hay nhà cao, Hướng tinh vượng cần có thuỷ hoặc cửa ra vào… Nếu chúng được như vậy thì dù ngũ hành có bị xung khắc cũng vẫn không có tai hoạ gì cả. Chỉ khi chúng đều là khí suy, tử, hoặc không đắc cách thì mới xét đến ngũ hành sinh, khắc để đoán biết hung hoạ mà thôi.

Lấy thí dụ:

Cung KHẢM có các sao: 7-8-3 (theo thứ tự Sơn-Vận-Hướng). Nếu là trong vận 7, sơn tinh 7 là vượng khí, nên nếu khu vực này có nhà cao thì chủ vượng nhân đinh, lại hoá sát của Hướng tinh số 3, chứ không có vấn đề khắc chế gì cả. Nhưng qua vận 8, sơn tinh 7 biến thành suy khí, khắc chế Hướng tinh 3, nên nhà này dễ bị trộm cướp hay tai hoạ hình thương, hay có bệnh về thần kinh…

Chỉ có khi xét tới niên, nguyệt, nhật thời tinh thì mới dùng đến nguyên lý ngũ hành sinh, khắc làm chủ yếu. Còn giữa vận-sơn-hướng khi xét đến sự sinh, khắc thì chủ yếu là giữa Hướng tinh và Sơn tinh, còn vận tinh chỉ có thể phụ hoạ thêm vào cái sinh hoặc khắc giữa 2 sao đó mà thôi

4. Ý nghĩa các cặp Sơn, Hướng

4.1 Nhất Bạch 

  • 1-1: là Tỵ hòa
    • nếu Vượng ứng với quan tinh, chủ văn chương, thông minh, văn tài xuất chúng.
    • Nếu Suy ứng với bệnh về máu, thận suy, nghiện ngập, dâm đãng, xảy thai, bất đắc chí.
  • 1-2: là Nhập khắc.  
    • Nếu Vượng thì mẫu thân dễ mắc bệnh về tỳ vị hoặc đường ruột .
    • Nếu Suy thì chồng bị vợ nhục mạ hoặc lấn quyền, người nhà dễ mắc các chứng bệnh về thận hoặc tiết niệu.
  • 1-3: là sinh xuất.
    • Nếu Vượng thì con trưởng được danh giá quyền quý, có lợi cho người thuộc mệnh Tam mộc, nhân đinh tài bạch đều phát lớn .
    • Nếu Suy thì con cháu dòng trưởng suy bại, bị kiện cáo tù tội hoặc trộm cướp, người nhà dễ mắc các chứng bệnh về gan,chân, hoặc bị ép phải dời đi nơi khác ở.
  • 1-4: là sinh xuất.
    • Nếu Vượng thì xuất người nổi tiếng trong khoa cử, quan vận hanh thông thuận lợi, ra ngoài gặp nhiều điều hay về văn nghiệp, tên tuổi nổi bật .
    • Nếu Suy thì cũng đỗ đạt nhưng quý mà không phú, hoặc vì mang tiến tài hoa mà chìm đắm trong chống nữ sắc sinh ra quan hệ nam nữ bất chính . Nếu hình thế loan đầu bên ngoài có vật thuộc hành thổ thì đường văn chương hư bại, không con nối dõi, hoặc con cái chết yểu.
  • 1-5: là khắc nhập.
    • Nếu Vượng thì được cả tài bạch lẫn sang quý (tức có địa vị chức tước).
    • Nếu Suy thì nữ nhân trong nhà dễ mắc các chứng bệnh về đường sinh dục; nặng thì thận suy kiệt, ngộ độc thức ăn, con thứ chết yểu.
  • 1-6:  là sinh nhập.
    • Nếu Vượng thì từ nhỏ đã được hưởng giàu sang, ngoài ra, nếu sơn Kiền mà đắc thủy (có sông nước) thì sự nghiệp văng chương có thể phát đên tám đời .
    • Nếu Suy thì thủy kim chủ về lạnh, dễ mắc các chứng bệnh về đầu, xương hoặc bị thương tật vì kim loại.
  • 1-7: là sinh nhập.
    • Nếu Vượng thì đào hoa, dễ tạo của cải .
    • Nếu Suy thì kim thủy đa tình, đam mê tửu sắc, hoặc vì tửu sắc mà bị kiện tụng thị phi, có khi vì tranh chấp mà sinh ra thù hằn gây gỗ đến nổi phải mang thương tật.
  • 1-8: là khắc nhập.
    • Nếu Vượng thì trẻ con trong nhà có họa chết đuối, xuất hiện người có tài về viết lách .
    • Nếu Suy thì vợ mắc chứng vô sinh, có bệnh về tai, thiếu máu, hoặc có con chết non.
  • 1-9: là khắc xuất.
    • Nếu Vượng thì thủy hóa đều có đủ, lợi lớn về tiền tài, nhân khẩu cũng thịnh vượng .
    • Nếu Suy thì dễ mắc các chứng bệnh về tim, vợ chồng bất hòa, anh em tranh chấp.

4.2 Nhị Hắc

  • 2-1: là khắc xuất.
    • Nếu Vượng thì giàu có về điền sản, gia cảnh hưng vượng, nhân khẩu đông, mẫu thân khỏe mạnh sống lâu.
    • Nếu Suy thì vợ khắc chồng, đàn ông mất ở tuổi trung niên, quả phụ làm chủ gia đình, người nhà thường mắc cách chứng bệnh về tỳ vị, đường ruột hay thận.
  • 2-2: là tỵ hòa.
    • Nếu Vượng thì giàu có, ruộng đất nhiều, có quyền thế, lợi về binh nghiệp.
    • Nếu Suy thì ham mê nữ sắc, dâm đãng, khí lực suy yếu, mẹ già nhiều bệnh tật, người trong nhà thường xảy ra nhiều chuyện xấu, ra ngoài dễ gặp tiểu nhân ngầm hại.
  • 2-3: là khắc nhập.
    • Nếu Vượng thì vợ ngắm quyền, gia tài tích lũy do làm việc bất chính, nhưng con trưởng chẳng ra gì.
    • Nếu Suy thì đàn ông vì dâm đãng mà gia đình tan nát, đàn bà dễ mắc các chứng về đường tiêu hóa . Nhị Tam sóng đôi còn gọi là “đâu ngưu sát” nên vợ chồng thường bất hòa, chống đối nhau. Người trong nhà chỉ ham an chơi nên ruộng vường bỏ hoang, con cháu dễ thành trộm vặt.
  • 2-4: Nhị gặp Tứ là khắc nhập.
    • Nếu Vượng thì con dâu nắm quyền, gia đình hưng vượng, nhiều nhân đinh.
    • Nếu Suy thì chọ dâu ức hiếp em chồng, nam giới hiếu sắc. Có mẹ già cô khổ, hoặc xuất gia làm ni. Người trong nhà dễ mắc các chứng bệnh về tỳ vị, đường ruột, đau cách tay. Gia cảnh buồn tẻ vắng lặng, ra ngoài thường gặp những việc tai tiếng quấn vào thân, hoặc mắc bệnh thương hàn.
  • 2-5: là tỵ hòa.
    • Nếu Vượng thì tạo dựng cơ nghiệp dễ dàng, tài vận tốt, hưng thịnh nhất là về địa sản.
    • Nếu Suy thì phát sinh đủ thứ bệnh, vợ đau yếu nặng, dễ thành người góa vợ . Đặc biệt người nhà thường mắc các chứng về tỳ vị, đường ruột mãn tính.
  • 2-6: là sinh xuất.
    • Nếu Vượng thì gia cảnh bình yên, con cái thuận hòa, gia nghiệp hưng thịnh, nhiều khả năng hành nghề y cứu đời, hoặc trở thành người có quyền trong nghiệp võ.
    • Nếu Suy thì cha già lắm bệnh, trong nhà có người đi tu, cha con thù oán nhau, chủ khách tranh chấp, thường gặp việc tai tiếng thị phi, người nhà thường mắc bệnh đau dầu hay điên loạn.
  • 2-7: là sinh xuất.
    • Nếu Vượng thì trở thành cự phú bằng tiền của bất chính hoặc bất ngờ (hoạnh tài), nhiều con cái.
    • Nếu Suy thì mẹ và con gái thường nghịch nhau, vợ kế không hiền thục . Ngoài ra dễ có hỏa tai hoặc bị chứng bạch đới cấp tính, kiết lỵ; đàn ông thường hay bị phụ nữ quấy rầy hoặc vì tranh chấp thị phi mà bị đâm chém.
  • 2-8: là tỵ hòa.
    • Nếu Vượng thì giàu có, ruộng đất không thấy bờ.
    • Nếu Suy thì hay mắc bệnh nhẹ, đàn bà thường bỏ nhà đi tu
  • 2-9: là sinh nhập.
    • Nếu Vượng thì văn chương chử nghĩa bề bề, đất đai tiền của tích tụ lớn.
    • Nếu Suy thì việc đen tối ập đến ngay, chủ về chuyện nam nữ ám muội, tiền của ra đi nhanh chóng, vả lại còn xuất hiện người chồng ngu đân . Hóa nóng thổ (đất) khô nên dễ sinh ra chứng bạch đới cấp tính . Khi âm quá nhiều nên nhiều đời có quả phụ . Thổ tổn thương mắt, con cháu ắt có người mù lòa

4.3 Tam Bích

  • 3-1: là sinh nhập.
    • Nếu Vượng thì con trưởng được quyền quý, đinh tài đều đại phát, thi cử đổ đạt.
    • Nếu Suy thì con cháu ngành trưởng lụn bại, tính khí ngỗ ngáo, có thể dẩn tới họa quan tụng; hoặc vì bấtt hòa với xóm giềng mà phải dọn nhà đi xa. Việc làm phần lớn không thuận lợi, hơn nữa còn dễ bị thương tật ở tai chân.
  • 3-2: là khắc xuất.
    • Nếu Vượng thì được giàu có về nhà cửa ruộng vườn, con trưởng tài đinh đại phát.
    • Nếu Suy thì dễ có sát khí chống đối nhau. Gia đạo bất hòa, vợ chồng không êm ấm. Thường vì tranh chấp với cấp trên mà gặp điều tai tiếng . Dễ mắc chứng đau dạ dày, khó tiêu hóa, hoặc vì đánh nhau mà chân bị thương tật; nói chung là gia đình gặp nhiều vất vả, trở ngại mà vẫn thất bại tan vỡ.
  • 3-3: là tỵ hòa.
    • Nếu Vượng thì thanh danh hiển hách, hưng gia lập nghiệp, tiền của tương đối khá giả.
    • Nếu Suy thì trong nhà sinh ra trộm cướp hoặc bị trộm cướp, dễ bị thương tật ở chân tay, hoặc vì đánh nhau với người mà bị tù tội.
  • 3-4: là tỵ hòa.
    • Nếu Vượng thì Tam và Tứ là chính phối, sinh nhiều quý tử, sự nghiệp và tài vận phát triển hanh thông.
    • Nếu Suy thì trong nhà sinh ra trộm cắp hoặc ăn xin, thường mắc chứng dị ứng hoặc bị thương ở tay chân, đau gan, đau mật. Nếu gặp Thái Tuế e rằng kiếp nạn vì tình hoặc bị rắn cắn.
  • 3-5: là khắc xuất.
    • Nếu Vượng thì tiền tài khá giả và quyền quý, có thể làm quan to.
    • Nếu Suy thì dễ bị các chứng độc như bọ cạp, rắn, rết cắn; tâm tư uất kết dễ mắc bệnh gan, hoặc thương tật ở chân.
  • 3-6: là khắc nhập.
    • Nếu Vượng thì quan trường lao đao vất vả nhưng sự nghiệp ắt thành, trở thành người phụ tá đắc lực cho cấp trên.
    • Nếu Suy thì bị quan tụng hoặc tai họa binh đao, dễ bị thương tật ở chân tay do kim loại gây nên; đôi khi mắc bệnh gan, gia đạo thường xảy ra tranh chấp.
  • 3-7: là khắc nhập.
    • Nếu vượng thì nguồn tiền của tăng tiến, có chức quyền ca/ văn lẫn võ.
    • Nếu suy thì nó là “Xuyên Tâm Sát”, thường mắc các chứng bệnh ở tay chân, gan mật; hoặc bị quan tụng thị phi. Nếu phương Đoài bị khắc phá thì gan bị thương tổn hoặc mắc chứng thổ huyết. Trong nhà có kẻ đam mê tửu sắc, bị trộm cướp trèo tường khoét vách phá hoại danh tiết con gái trong gia đình, chốn phòng the không hòa thuận, các tai họa thường là con trưởng chịu.
  • 3-8: là khắc xuất.
    • Nếu vượng thì xuất hiện văn tài bậc nhất, lại phát cả tài lẩn đinh.
    • Nếu suy thì con thứ gặp nhiều tai họa, dễ bị thương gân cốt hoặc bị chó cắn. Anh em trong nhà bất hòa hoặc vì tranh giành gia sản mà gây ra kiện tụng.
  • 3-9: là sinh xuất.
    • Nếu vượng thì phát như sấm dậy, con cháu thông minh, văng tài hiếm thấy, hưởng giàu sang được nhiều năm.
    • Nếu suy thì tai tiếng thị phi chồng chất liên tiếp, thường mắc các chứng đau mắt, đau dầu; ngoài ra con dễ gặp hỏa hoạn.

4.4 Tứ Lục

  • 4-1: là sinh nhập.
    • Nếu vượng thì một đời danh giá, đại lợi về văn tài, học hành thì cử đổ đạt. Con cái thông minh, thành tích thường đứng đầu, nghề nghiệp vừa ý, tài vận thuận lợi.
    • Nếu suy thì dễ mắc bệnh trúng phong, hoặc vì dâm đãng tửu sắc mà hư bại, gây ra tiếng xấu bên ngoài . Hoặc vợ vô sinh, có con thì cũng chết yểu.
  • 4-2: là khắc xuất.
    • Nếu vượng thì tương đối giàu sang, vợ nắm quyền trong nhà, con cái đông.
    • Nếu suy thì vợ ngỗ nghịch khắc mẹ chồng và ức hiếp em chồng. Không khí gia đình nặng nề, không vui; người nhà thường hoảng loạn, dễ mắc chứng đau dạ dày; bị chó dại cắn . Mẹ chồng nàng dâu, chị dâu em chồng thường hay xích mích, mẹ già gặp tai ương. Sự nghiệp suy bại, gia phong càng lúc càng xấu đi, hoặc có người xuất gia làm ni.
  • 4-3: là tỵ hòa.
    • Nếu vượng thì âm dương phối hợp đúng phép, gia đạo êm ấm, con cái thuận hòa, sự nghiệp thuận lợi, tương đối giàu sang.
    • Nếu suy thì vợ chồng hay cải vả xích mích, người nhà thường có ý làm tăng ni, xuất hiện kẻ sống lang thang chẳng ra gì. Thường mang bệnh dị ứng hoặc có tật ở tay chân
  • 4-4: là tỵ hòa.
    • Nếu vượng thì hai sao Văn Khúc cùng đến, con cháu thành tích nổi bật, có tinh mừng về thi cử. Đại lợi về tài văn chương, làm quan văn khá nổi tiếng.
    • Nếu suy thì phiêu bạn khắp nơi, hoặc trở thành tăng ni. Đàn ông xa nhà bôn ba, sống nơi chân trời gốc bể. Người nhà dễ bị bệnh phong; quả phụ làm chủ gia đình.
  • 4-5: là khắc xuất.
    • Nếu vượng thì có tài văn chương, giàu có, sự nghiệp thuận lợi.
    • Nếu suy thì ham ăn ham uống, ruộng vườn bỏ hoang, cảnh nhà ảm đạm, buồn tẻ; nữ chủ nhân thường hay đau ốm, có ý hướng xuất gia, khó sinh và khó nuôi con cái, gia đạo lụn bại.
  • 4-6: là khắc nhập.
    • Nếu vượng thì quan binh không dám đụng đến, được mọi người đối đãi tử tế, gia đạo êm ấm, tài lộc có đủ.
    • Nếu suy thì cha chồng ngược đãi con dâu, dễ khiến con dâu phải bỏ nhà ra đi. Người trong nhà thường tranh chấp nhau; dễ mắc bệnh gan, mật và thương tật ở tay. Tứ Lục sóng đôi là tượng “Dịch Mã”, nên người nhà dễ phảI tha hương, rày đây mai đó; nặng thì có thể bị đày.
  • 4-7: là khắc nhập.
    • Nếu vượng thì vợ nắm quyền hành, táo bạo hơn người nhưng tích lũy được nhiều tiên của.
    • Nếu suy thì nam nữ đa dâm, con cháu học hành chẳng ra gì; dễ bị bệnh thổ huyết mà chết yểu. Ra ngoài thị gặp nhiều thị phi; mẹ chồng nàng dâu bất hòa . Dễ phạm kiếp sát đào hoa
  • 4-8: là khắc xuất.
    • Nếu vượng thì vợ hiền dạy con thảo, của cải chất thành núi.
    • Nếu suy thì người nhà có người ở trong rừng núi sâu làm ẩn sĩ, hoặc vào chùa làm sư. Con cháu nhiều bệnh tật, học hành không giỏi giang; dễ mắc bệnh viêm mũi, bệnh phong hoặc bị rắn hay chó cắn.
  • 4-9: là sinh xuất.
    • Nếu vượng thì hợp với kim Tiên Thiên, được tài lẫn quý, xuất hiện kẻ sĩ văn chương nổi tiếng.
    • Nếu suy thì thường bị đau mắt hoặc bị hỏa tai. Đàn ông dễ rơi vào cảnh ngộ vi gian dâm mà gia sản lụn bại.

4.5 Ngũ Hoàng

  • 5-1: là khắc xuất.
    • Nếu vượng thì tài đinh đại phát, nhưng con giữa không phát.
    • Nếu suy thì con giửa lại chịu tai ương hoặc đau ốm nặng, đặc biệt là bệnh về đường tiết niệu, bệnh phụ khoa. Ngoài ra còn thường bị các bệnh về tai, hắc lào . Người nhà bệnh hoạn luôn.
  • 5-2: là tỵ hòa.
    • Nếu vượng thì thì tài đinh đại phát, người mẹ nắm quyền trong nhà.
    • Nếu suy thì phát đủ thứ bệnh, nhất là cha mẹ. Chủ yếu là bệnh về dạ dày và đường ruột . Gặp lúc sao Thái Tuế tới thì cha bệnh nặng, mẹ dễ thành quả phụ.
  • 5-3: là khắc nhập.
    • Nếu vượng thì tài đinh đại phát, con trưởng được thừa hưởng phúc lộc.
    • Nếu suy thì thường mắc các chứng bệnh về gan, tụy, mụn nhọt, ghẻ lở ở chân tay hoặc chổ kín. Con trai phản nghịch, trong nhà có người bị thương tật ở chân, gia đạo không yên ấm.
  • 5-4: là khắc nhập.
    • Nếu vượng thì có tài vănt hơ và giàu có, sự nghiệp thuận lợi.
    • Nếu suy thì con trai lêu lỏng ăn chơi, ruộng vườn bỏ hoang; phụ nhân có nhọ độc ở vú, phái nam thường bị sởi. Nhà cửa ảm đạm buồn tẻ, con dâu có ý xuất gia làm ni, gia phong suy bại.
  • 5-5: là là tỵ hòa.
    • Nếu vượng thì đinh tài đều vượng, gia nghiệp phồn thịnh.
    • Nếu suy thì khó thoát hung sát hoành hành, dễ bị chứng bạch đới cấp tính. Nhẹ thì bị nhọt độc, nặng thì hao người.
  • 5-6: là sinh xuất.
    • Nếu vượng thì tiền tài tương đối khá giả, con cái hiếu thuận, nhưng chủ nhân không hưởng được.
    • Nếu suy thì chủ nhân mang bệnh, nhẹ thì đau đầu, đau xương, nặng thì thập tử nhất sinh, ra ngoài dễ bị thương tổn. Hoạn lộ gặp nhiều khó khăn, thậm chí có thể bị tổn thất.
  • 5-7: là sinh xuất.
    • Nếu vượng thì giàu có sung túc, gia nghiệp hưng vượng.
    • Nếu suy thì tranh chấp thị phi, chuyện rắc rối xảy ra thường xuyên, hoặc vì tửu sắc mà phá hết gia sản, có khi gây nên tai họa dẫn tới tù tội. Thiếu nữ trong nhà thường đau ốm . Có người bệnh răng, miệng, họng, hoặc bị thương bởi búa rìu.
  • 5-8: là tỵ hòa.
    • Nếu vượng thì giàu có, ruộng vườn mênh mông, con cái tốt lành gặp nhiều thuận lợi.
    • Nếu suy thì con trai nhỏ thường đau yếu, trung niên đau mỏi gân cốt. Khí vận của gia đạo suy giảm.
  • 5-9: là sinh nhập.
    • Nếu vượng thì con cái thông minh, tài vận tốt.
    • Nếu suy thì sinh con ngu đần, người nhà mắc chứng đau mắt, đau đầu hay trong lòng buồn phiền. Gặp lúc Thái Tuế tới dễ mắc chứng bạch đới cấp tính.

4.6 Lục Bạch

  • 6-1: là sinh xuất.
    • Nếu vượng thì quan vận thuận lợi, hanh thông, tiền của dồi dào, con cái học hành đỗ đạt.
    • Nếu suy thì quan lộc tuy không giảm nhưng người nhà thường mắc chứng đau đầu, hoặc gặp tai nạn sông nước.
  • 6-2: là sinh nhập.
    • Nếu vượng thì phát lớn, giàu có nhiều vàng bạc ngọc quý, cuộc sống bình yên, xuất hiện người hành nghề y cứu đời.
    • Nếu suy thì tham lam vô độ, bủn xỉn, hoặc xuất gia đi tu, vợ chồng bất hòa chia cách. Người nhà thường mắc các chứng về đầu, xương, dạ dày, đường ruột.
  • 6-3: là khắc xuất.
    • Nếu vượng thì tài vận và quan vận đều hanh thông, quyền uy hơn người.
    • Nếu suy thì dễ gặp nạn binh đao, bị thương, cha con bất hòa, có tang tóc.
  • 6-4: là khắc xuất.
    • Nếu vượng thì giàu có, thành công trên thương trường, nhất là lãnh vực buôn báng đường xa, hoặc được làm quan võ.
    • Nếu suy thì khắc vợ hoặc bị khổ sai, có khi người vợ không chịu đựng nổi, phải bỏ mà đi. Người nhà thường đau tay, đau đầu hoặc bị tê liệt
  • 6-5: là sinh nhập.
    • Nếu vượng thì tài vận và quan vận đều tốt, nhưng có tiểu nhân ngầm hại.
    • Nếu suy thì tiểu nhân chống đối, làm hao tổn tinh thần hoặc mất chức. Chủ nhân nhiều bệnh tật, thường là bệnh đau đầu, tinh thần bất ổn có thể làm điều sai quấy
  • 6-6: là tỵ hòa.
    • Nếu vượng thì quan vận thuận lợi, hanh thông, quyền chức cao.
    • Nếu suy thì gặp nhiều rắc rối, khó thoát thân, có khi phải ngầm di chuyển chỗ ở; hoặc bị hung đồ truy đuổi mà phải trốn chạy, của cải tổn thất, dễ bị tai nạn trên đường.
  • 6-7: là tỵ hoà
    • Nếu vượng thì làm văn quan hay võ chức đều có quyền lớn trong tay, tài lộc thuận lợi.
    • Nếu suy thì dễ bị thương vì đao kiếm, hoặc vì tranh chấp mà bị tổn thương. Nhà có thể bị trộm cướp, hoặc vì xích mích mà gặp rắc rối . Già trẻ đều không yên, thường mắc bệnh đau đầu, đau miệng, đau họng.
  • 6-8: là sinh nhập.
    • Nếu vượng thì có văn chức, võ quyền, công danh và bổng lộc đều có, con cháu được thừa hưởng gia nghiệp hưng thịnh.
    • Nếu suy thì tuy quan lộc không giảm nhưng người nhà phần nhiều mắc bệnh đau đầu, đau xương.
  • 6-9: là khắc nhập.
    • Nếu vượng thì hỏa chiếu thiên môn nên đinh tài đều vượng, chủ nhân quyền cao chức trọng lại sống thọ. Người nhà xuất hiện võ tướng tài ba.
    • Nếu suy thì hỏa đốt thiên môn, người nhà sinh con bất hiếu. Con cháu dòng trưởng sa sút, gặp hỏa khắc kim thì dễ bị bệnh thổ huyết . Hỏa thiêu dốt thiên môn nên trong nhà dễ sinh nghịch tử; hỏa thịnh thì dễ gặp tai ương.

4.7 Thất Xích

  • 7-1: là sinh xuất.
    • Nếu vượng thì võ chức thăng tiến, con cái đào hoa.
    • Nếu suy thì thủy kim đều lạnh nên con cháu ham mê tửu sắc, tiêu phá tiền của hoặc vong ơn bội nghĩa. Gặp lúc Thái Tuế bay tới thì có điều nọ tiếng kia, hoặc bị cướp, bị bệnh ở bụng dưới, thổ huyết, thương tật, hay bị tù đày mà phá sản
  • 7-2: là sinh nhập.
    • Nếu vượng thì tài sản ruộng vườn thêm nhiều, thăng quan tiến chức, phụ nhân sang quý. Nếu gặp được số Nhị Thất bát quái Tiên Thiên thì trong nhà luôn có đèn chiếu sáng, hưng vượng nhộn nhịp.
    • Nếu suy thì dễ gặp hỏa hoạn, phụ nữ trong nhà bất hòa, người nhà dễ bị ngộ độc thức ăn, có bệnh về răng miệng hay kiết lị.
  • 7-3: là khắc xuất.
    • Nếu vượng thì làm văn thần võ tướng, quyền cao chức trọng, trong nhà xuất hiện người có tài văn thao võ lược, bốn phương kính phục, con cháu giỏi giang hơn người.
    • Nếu suy thì đối xử thô bạo với mọi người, con cái hống hách lộng hành. Gia đạo bị xuyên tâm sát dễ gặp binh đao, trộm cướp . Trong nhà cãi cọ, kiện cáo lẫn nhau; gia đình bất hòa, con cái ly tán . Người nhà dễ mắc bệnh thổ huyết, bị thương tật hoặc quan tai.
  • 7-4: là khắc xuất.
    • Nếu vượng thì phụ nhân sang cả quyền thế, quan lộc đều có, đồng thời gặp vận đào hoa.
    • Nếu suy thì phụ nữ làm chủ nhân, gặp kiếp đào hoa nên nam nữ ham dâm, trong nhà bất hòa, mẹ chồng nàng dâu không hòa thuận. Dễ bị bệnh thổ huyết hoặc chết yếu.
  • 7-5: là sinh nhập.
    • Nếu vượng thì giàu có, ruộng vườn của cải đại phát.
    • Nếu suy thì có bệnh ở miệng, ung nhọt. Thường tranh chấp nên dễ bị kiện tụng hoặc gặp rắc rối vì đào hoa.
  • 7-6: là tỵ hòa.
    • Nếu vượng thì văn võ toàn tài, quan lộc đều có.
    • Nếu suy thì có tranh chấp ở chốn quan trường, gia đạo bất hòa, dễ bị thương tật vì đao kiếm hoặc tai nạn xe cộ. Dễ bị bệnh tật ở miệng, đau đầu, viêm nhọt.
  • 7-7: là tỵ hòa.
    • Nếu vượng thì của cải và quyền bính đều được quý nhân phù trợ nhưng kiếm tiền bất nghĩa.
    • Nếu suy thì dễ gặp trộm cướp hoặc hỏa hoạn; thường hay bị tranh chấp. Trai gái vì ham mê tửu sắc nên dễ bị quan tai.
  • 7-8: là sinh nhập.
    • Nếu vượng thì thăng quan tiến chức liên tiếp, tài vận hanh thông, trở nên giàu có, gia đình hòa thuận, con cháu khỏe mạnh và phát triển thuận lợi.
    • Nếu suy thì tiền tài tổn thất, ra đi nhanh chóng. Dễ bị tật ở miệng hoặc con nhỏ lắm bệnh tật.
  • 7-9: là khắc nhập.
    • Nếu vượng thì hỏa chiếu sảnh đường, gia đạo hưng vượng.
    • Nếu suy thì dễ gặp hỏa hoạn. Phương vị Thất Cửu nếu có Nhất Bạch bay đến thì dể gặp hỏa tai. Nếu phương vị Thất Cửu là ở hướng mà động thì gặp hỏa hoạn . Thất Cửu ở phương vị sơn gặp Nhị Hắc thì hung sát càn nặng, dù không động cũng gây nên hỏa hoạn . Nếu Loan Đầu bên ngoài có nhiều màu đỏ thì khó tránh khỏi hỏa tai

4.8 Bát Bạch

  • 8-1: là khắc xuất.
    • Nếu vượng thì đại lợi về văn chương học hành, văn chức thăng tiến, đặc biệt thuận lợi về kinh doanh địa sản.
    • Nếu suy thì dễ mắc bệnh thiếu máu, bệnh về tai; anh em trong nhà bất hòa, bạn bè phản bội, hoặc phụ nữ không sinh đẻ, trẻ con chết đuối.
  • 8-2: là tỵ hòa.
    • Nếu vượng thì giàu có nhờ địa sản.
    • Nếu suy thì dễ mắc bệnh đau dạ dày, đường ruột, hoặc bị chó cắn. Nếu Loan Đầu bên ngoài có dải núi chạy đi thì có thể xa rời quê hương đất tổ, xuất gia làm tăng ni hoặc chết ở đất khách quê người
  • 8-3: là khắc nhập.
    • Nếu vượng thì địa sản (nhà cửa, ruộng vườn) dồi dào, quyền lực tăng tiến lên đột ngột, nhờ đước số của Tiên Tiên bát quái nên việc hợp tác rất tốt.
    • Nếu suy thì của cải thất thoát, chức quyền giảm sút. Trong nhà có người bị thương nhẹ ở tay chân hoặc có bệnh gan, dạ dày.
  • 8-4: là khắc nhập.
    • Nếu vượng thì vợ nắm quyền, giàu có về ruộng vườn và nhà cửa.
    • Nếu suy thì có tổn thương nhỏ, vợ lấn quyền chồng, gia đạo bất hòa. Ra ngoài dễ gặp tai nạn xe thuyền, hoặc làm ẩn sĩ ở chốn núi rừng.
  • 8-5: là tỵ hòa.
    • Nếu vượng thì tài lộc phát đạt, vận thế hanh thôn.
    • Nếu suy thì hao tài tổn sức, dễ bị bệnh nhẹ, vận thế trở ngại. Dễ mắc bệnh đau bao tử, đường ruột, hoặc ngộ độc thức ăn.
  • 8-6: là sinh xuất.
    • Nếu vượng thì dễ trở thành quan văn, nhiều quyền thế, phú quý và phúc đức tăng cao.
    • Nếu suy thì thì vẫn giàu sang nhưng cha con bất hòa, dễ mắc bệnh đau đầu, nhức xương.
  • 8-7: là sinh xuất.
    • Nếu vượng thì văn chức võ quyền đều có, tài lộc sung túc, vợ chồng hòa thuận, con cái an khang.
    • Nếu suy thì tài sản dễ tiêu tán, vợ chồng mâu thuẩn bất hòa, con cháu tổn thất.
  • 8-8: là tỵ hòa.
    • Nếu vượng thì có lợi về văng chương, học hành; phát về ruộng vườn, nhà cửa; giàu sang phú quý đều có, sự nghiệp hưng vượng.
    • Nếu suy thì sự nghiệp suy tàn, của cải thất tán. Thường mắc bệnh nhức xương đau vai.
  • 8-9: là sinh nhập.
    • Nếu vượng thì tin vui đến dồn dập; giàu có không ai sánh kịp, có địa vị trong triều đình.
    • Nếu suy thì mắt mũi lắm tật bệnh, bụng nhiệt, đại tiện ra máu, hoặc bị hỏa hoạn.

4.9 Cửu Tử

  • 9-1: là khắc nhập.
    • Nếu vượng thì trong nhà có nhiều việc vui mừng, âm dương chính phối, thủy hỏa có đủ, vợ sinh nhiều con trai, giàu sang đến đột ngột.
    • Nếu suy thì con cháu dòng giữa lụn bại, có bệnh ở mắt và tai. Nếu kèm theo Thất Xích bay đến thì e rằng có hỏa tai
  • 9-2: là sinh xuất.
    • Nếu vượng thì giàu có về ruộng vườn nhà cửa, mẫu thân quản lý gia sản.
    • Nếu suy thì sinh con đần độn, tran viên bị hỏa hoạn, dạ dày nóng nên đại tiện ra máu, dễ có bệnh đường ruột hoặc bệnh mắt.
  • 9-3: là sinh nhập.
    • Nếu vượng thì đèn luôn rực sáng sảnh đường, quyền cao chức trọng, uy chất bốn phương, con cháu thông minh đắc chí.
    • Nếu suy thì e rằng có kiếp nạn vì dâm loạn, có hỏa hoạn. Đàn ông hung ác, bại hoại thanh danh. Người nhà dễ bị bệnh mắc, hoặc bị thương tật ở chân.
  • 9-4: là sinh nhập.
    • Nếu vượng thì sảnh đường rực sáng, chồng vẻ vang danh tiếng, vợ sang quý đẹp đẽ, con cháu thông minh, tài văn chương nổi bật, có nhiều hoạnh tài, tin mừng đến dồn dập.
    • Nếu suy thì nam nữ dâm loạn, danh tàn thân bại, sự nghiệp tiêu tan, thường bị bệnh mắt hay lưng eo. Con cháu hoang đàng bừa bãi.
  • 9-5: là sinh xuất.
    • Nếu vượng thì giàu có về địa sản.
    • Nếu suy thì sinh con đần độn, con có tổn thương về mắt. Nếu Loan Đầu bên ngoài có ngọn núi trọc vi bị tàn phá thì con cháu thi cử khó đỗ đạt; trong nhà có người bị tật hay mù lòa, hoặc vì sắc dục mà mắc bệnh giang mai, nhọt độc.
  • 9-6: là khắc xuất.
    • Nếu vượng thì văn chương hiển đạt. Thất Bát Cửu liền nhau là ứng nghiệm tám đời đều đó tài văn chương. Chủ nhân khỏe mạnh sống lâu, gia đạo an khang.
    • Nếu suy thì lửa thiêu đốt thiên môn, trong nhà sinh ra nghịch tử, hoặc con cháu bỏ nhà ra đi. Hỏa khắc kim (phế thuộc kim) nên dễ bị thổ huyết, hoặc bệnh lao.
  • 9-7: là khắc xuất.
    • Nếu vượng thì nam nữ thông minh lanh lợi, tiền của hoạnh tài đến tay.
    • Nếu suy thì nam nữ nghiện ngập; vì ham mê tử sắc hoặc bị hỏa hoạn mà tài sản tiêu tán, nhà có người mắc bệnh lao. Cửu Thất là hỏa của Tiên Thiên và Hậu Thiên bát quái, cho nên chủ về hỏa hoạn và củng là quan tai.
  • 9-8: là sinh xuất.
    • Nếu vượng thì giàu có về ruộng vườn nhà cửa, văn chức thăng tiến, tinh mừng đến dồn dập.
    • Nếu suy thì hỏa viêm thổ táo, sinh con ngu đần. Nhà có người bị tật mắt hoặc mắc bệnh đau bao tử
  • 9-9: là tỵ hòa.
    • Nếu vượng thì tài văn chương hiển hách, nổi tiếng khắp nơi, gia cảnh rực rỡ, đinh tài phát đột ngột.
    • Nếu suy thì sinh nhiều con gái, nam nữ hiếu sắc. Trong nhà có người bị tật ở mắc hoặc mù lòa . Trong nhà dễ có người bị bệnh bạch đới cấp tính.

Cần chú ý Nhắc lại cần lưu ý thế nào là vượng và thế nào là suy. Thí dụ : vận 8 ở một cung có cặp sơn hướng 8-6 . Nếu có núi, nhà cao, cây cao thì gọI là vượng vì 8 là sơn tinh vượng. Nếu có ao hồ thì gọI là suy vì 6 là hướng tinh tử khí trong vận 8

5. Phương pháp chọn toạ sơn lập hướng

Về tuổi của người sống trong ngôi nhà thì Lý thuyết huyền không không đặt nặng vấn đề. Nếu ngôi nhà được vượng sơn vượng hướng và loan đầu phù hợp thì bất cứ tuổi nào sống trong ngôi nhà đó vẫn tốt như thường. Tuy nhiên việc chọn toạ sơn lập hướng cho một ngôi nhà theo huyền không cần xem xét một cách cẩn thận.

Trước tiên phải tìm hiểu xem phải làm thế nào để xây dựng được một ngôi nhà có trạch vận tốt. Muốn xây được cát trạch thì bước đầu tiên chính là phải lập hướng cho ngôi nhà. Có nghĩa là xác định tọa hướng của ngôi nhà, để cho ngôi nhà được xây hài hòa với với trường khí của trời đất, âm dương cân bằng. Để được Vượng sơn vượng hướng phát huy tác dụng vượng đinh vượng tài. Tương tự, điều này cũng thích hợp với việc chọn đất và xây dựng mồ mả.

Việc lập hướng được thực hiện bằng la bàn, hay nói một cách đơn giản. Đó chính là dùng la bàn để xác định phương vị tọa độ của ngôi nhà. Đó cũng là một trong chức năng cơ bản nhất của la bàn. Lập hướng phân thành lập hướng chính hướng và lập hướng kiêm hướng.

Khi lập hướng cố gắng sử dụng chính hướng chứ không dùng kiêm hướng. Xét từ góc độ học thuyết âm dương của kiêm hướng tương đối phức tạp dễ làm cho trạch vận thay đổi. Chính hướng phải chọn vượng sơn vượng hướng để xác định tọa hướng. Điều này không chỉ xem xét vượng tinh đương vận, mà còn cần xem xét vận tinh sinh khí. Có nghĩa là vượng tinh đương vận trong vận tiếp theo. Vì tuổi thọ của ngôi nhà bình thường đều từ 50 đến 70 năm. 20 năm là 1 vận. Do vậy, khi xây nhà cần phải suy tính đến trạch vận sau mấy năm, mười mấy năm, hoặc sau 20 năm.

Ngoài ra còn một số phương pháp lập hướng hợp lý. Đó là không phải chỉ phù hợp với cách cục tinh bàn tốt. Mà còn phải xem xét đến sự ảnh hưởng của địa hình địa thế và môi trường xung quanh. Đảm bảo rằng tinh bàn luôn phù hợp với môi trường mới là phương án tốt nhất.

6. Các cách sát trong Huyền Không

Những người mới áp dụng Huyền Không nên lưu ý nhiều đến những cách sát, bởi do học thuật hoặc kinh nghiệm còn hạn chế dễ bị bỏ qua những cách sát gây tổn hại âm đức cho mình và cho người. Nếu đã ứng dụng theo Huyền Không thì trước hết hãy theo Huyền Không từng bước cho chuẩn. Huyền Không đặc biệt chú trọng tới việc vận dụng Lý khí sao cho phù hợp với Hình thế vì vậy Hình – Lý là hai khái niệm bắt buộc không thể thiểu khi vận dụng Huyền Không.

6.1 THÁI TUẾ

Thái Tuế – còn gọi là Tuế tinh, Thái Tuế Địa Bàn, Thanh Long tinh hay Mộc tinh – là một hành tinh lớn có trọng lượng lớn hơn gấp 300 lần so với trọng lượng của Địa cầu, hơn nữa còn có hơn 63 vệ tinh khác quay xung quanh nó.

Do vậy nếu có chấn động (động thổ xây nhà, máy móc chuyển động, ống khói các nhà máy phun ra nhiều) … ở phương có Thái Tuế đến thì sẽ làm cho trường khí dồn về phương đó nhiều hơn nữa. Kết quả của các chấn động là Cát hay Hung sẽ tùy thuộc vào khí trường (vận khí) ở phương đó Vượng hay Suy. Như vậy Thái Tuế sẽ khuếch đại trường khí, Tốt thì tốt hơn, Xấu thì nặng hơn. Vì vậy sao Thái tuế đặc biệt được chú ý.

Một chu kỳ vòng quanh mặt Trời của Mộc tinh là 12 năm trong khi đó một chu kỳ vòng quanh mặt Trời của Địa cầu là 1 năm, vậy mỗi năm Địa cầu sẽ đi qua giữa mặt Trời và Mộc tinh một lần. Đó chính là thời điểm Địa cầu đồng thời bị hai lực hấp dẫn của mặt Trời và Mộc tinh tương tác và hệ quả là trường khí của Địa Cầu sẽ bị xáo trộn mãnh liệt. Năm Tý thì Thái Tuế đáo sơn Tý, năm Sửu thì Thái Tuế đáo sơn Sửu… đến năm Hợi thì Thái Tuế đáo sơn Hợi.

Ví dụ: Người sinh năm Dần, có niên canh Thái Tuế là Dần, niên canh xung Thái Tuế là Thân thì không nên động thổ tại hai phương Dần, Thân. Nếu muốn sửa chữa thì phải đảm bảo sao cho trường khí không thể dồn về các phương đó được (ví dụ như xây tường chắn khí …), nhưng tốt nhất là không nên động thổ ở các phương đó vì làm sao đảm bảo được trường khí sẽ không dồn về các phương đó. Từ lý luận này suy ra thì người được sinh ra ở Địa chi nào nên tránh chọn sơn mang tên Địa chi đó làm hướng nhà (vì hướng nhà là chỗ luôn luôn động và động mạnh nhất trong một căn nhà).

6.2 THÁI TUẾ PHI TINH

Thái Tuế Phi tinh: Cửu cung Phi tinh lưu niên, mỗi năm có 1 tinh tú nhập trung cung, còn lại 8 tinh tú bay đến 8 hướng (ngọai trừ Ngũ Hoàng) đều có thể luân phiên nhau làm Thái Tuế Phi tinh theo từng năm, 9 năm là kết thúc 1 vòng tuần hoàn.
Năm Ngũ Hoàng nhập cung trung thì Thái Tuế Địa bàn và Thái Tuế Phi tinh trùng nhau.
Thái Tuế Phi tinh sẽ gây ảnh hưởng mạnh hơn những phi tinh khác trong năm ngoại trừ Ngũ Hoàng.

6.3 NGUYỆT PHI THÁI TUẾ

Ngoài Thái Tuế ra còn có Nguyệt Phi Thái Tuế (Ám kiến sát). Cách tìm Ám Kiến sát như sau: Lập nguyệt tinh bàn tìm xem Nhị Khôn đáo cung nào thì cung đó chính là Ám Kiến sát. Phàm phương Ám Kiến đến, trong tháng đó tránh sửa chữa tu tạo.

6.4 TUẾ PHÁ

Tuế Phá là cung đối diện với Thái Tuế. Thái Tuế xuất hiện sẽ thu hút hết các dương khí, nhiều trường khí và từ lực trong không gian về phương vị của nó như vậy cung đối diện với nó (Tuế Phá) chỉ còn lại toàn là âm khí, hoặc trống rỗng. Như vậy có thể xem như phương vị Tuế Phá sẽ không còn sinh khí.

Không nên xung động (ngủ, làm việc, tu sửa nhà, đi lại…) với phương vị Tuế Phá thậm chí phương vị đó có Sinh – Vượng tinh bay đến.

6.5 NGŨ HOÀNG

Ngoài vận 5 ra, ở các vận khác đều có Ngũ Hoàng đáo Sơn hoặc đáo Hướng. Nếu Ngũ Hoàng là hướng tinh bay thuận thì tạo ra cách cục toàn bàn là hướng tinh Phục ngâm. Nếu Ngũ Hoàng là hướng tinh bay nghịch thì tạo ra cách cục toàn bàn là hướng tinh Phản ngâm.

Ngũ Hoàng (5) nếu là khách tinh lưu niên, các nơi nó đến đều mang hung họa.
Ngũ Hoàng (5) đáo cung ắt mang họa tới.
Ngũ Hoàng (5) nếu gặp Thái Tuế ắt sinh đại họa.
Ngũ Hoàng (5) gặp Tam (3), Thất (7) (Quan sát gặp phải Xuyên tâm sát) nếu không trở thành thổ phỉ thì cũng là trộm cắp hoặc tứ chi thọ thương
Ngũ Hoàng (5) gặp Tam (3), Nhị (2) (Quan sát gặp phải Đấu ngưu sát) nếu không phải trong nhà tranh giành của cải thì người mẹ ắt cũng chết đột ngột.
Ngũ Hoàng (5) gặp Lục (6), Thất (7) (Quan sát gặp phải Giao kiếm sát) không tranh giành đoạt lợi thì cũng bị kiện cáo.
Ngũ Hoàng (5) gặp Nhị (2), Ngũ (5) là ốm đau đến chết
Ngũ Hoàng (5) gặp Thất (7), Cửu (9) là mắc bệnh đột ngột.

6.6 TAM SÁT

Tam Sát là một trong những tai họa lớn nhất của năm. Nguyên tắc cơ bản là không được động thổ hoặc quấy rầy phương vị của nó trong suốt cả năm. Tam Sát là tổ hợp của ba Sát: Tuế Sát, Kiếp Sát và Tai Sát. Tuế Sát gây trở ngại cho các mối quan hệ, ngăn cản bước tiến tới thành công, Kiếp Sát gây mất mát tiền của và Tai Sát gây rủi ro, tai nạn. Phạm Tam Sát có thể khiến cho thanh danh, tiền bạc và các mối quan hệ bị hủy hoại.

Câu quyết đả nói:

  • Dần, Ngọ, Tuất: Sát Bắc.
  • Thân, Tý, Thìn: Sát Nam.
  • Hợi, Mẹo,Mùi: Sát Tây.
  • Tỵ, Dậu, Sửu: Sát Đông.

Có nghĩa là năm Dần, Ngọ, Tuất tam sát tại hướng Bắc, các năm khác tương tự.

6.7 BÁT SÁT: Lấy tọa sơn (mặt sau nhà) để tính.

Phương vị sát này kiêng kỵ trổ Cửa , đào Giếng, kỵ thấy nước.

  • Khảm Long, Khôn Thố, Chấn sơn Hầu.
  • Tốn Kê, Kiền Mã. Đoài Xà đầu.
  • Cấn Hổ, Ly Trư vi SÁT diệu.
  • Phạm chi MỘ-TRẠCH nhất tề hưu.

Dịch nghĩa là:

  • Nhà TỌA KHÔN thì ở phương MẸO (MÃO) là kỵ.
  • Nhà TỌA CHẤN thì ở phương THÂN là kỵ.
  • Nhà TỌA TỐN thì ở phương DẬU là kỵ.
  • Nhà TỌA KIỀN (CÀN) thì ở phương NGỌ là kỵ.
  • Nhà TỌA ĐOÀI thì ở phương TỊ là kỵ.
  • Nhà TỌA CẤN thì ở phương DẦN là kỵ.
  • Nhà TỌA LY thì ở phương HỢI là kỵ.

Và ngược lại cũng vậy.

  • Nhà TỌA (mặt sau nhà) THÌN, Tuất thì ở phương KHẢM là kỵ.
  • Nhà TỌA MẸO thì ở phương KHÔN là kỵ.
  • Nhà TỌA THÂN thì ở phương CHẤN là kỵ.
  • Nhà TỌA DẬU thì ở phương TỐN là kỵ.
  • Nhà TỌA NGỌ thì ở phương Càn là kỵ.
  • Nhà TỌA TỊ thì ở phương ĐOÀI là kỵ.
  • Nhà TỌA DẦN thì ở phương CẤN là kỵ.
  • Nhà TỌA HỢI thì ở phương LY là kỵ.

* Chọn ngày khởi công, động thổ: – Phải TUYỆT ĐỐI TRÁNH nhằm ngày phạm phải BÁT SÁT.

  • CÀN sơn : kỵ ngày Bính ngọ, Nhâm ngọ.
  • KHẢM sơn : kỵ ngày Mậu Thìn , Mậu Tuất.
  • CẤN sơn : kỵ ngày Giáp Dần, Bính Dần.
  • CHẤN sơn: kỵ ngày Canh Thân
  • TỐN sơn: kỵ ngày Tân Dậu.
  • LY sơn: kỵ ngày Quý Hợi, Kỷ Hợi.
  • KHÔN sơn: kỵ ngày Ất mẹo.
  • ĐOÀI sơn: kỵ ngày Đinh Tị.

Ví dụ: Ta định chọn ngày Tân tỵ động thổ cho nhà có tọa càn hướng Tốn. Nhà tọa càn thì bát sát là Bính ngọ, và Nhâm ngọ.

Ta cho Tân tỵ vào trung cung và an thuận theo vòng lường thiên xích hết 60 hoa giáp, thấy Bính ngọ, hoặc Nhâm ngọ rơi đúng vào cung Càn, thì năm tháng ngày giờ Tân tỵ này phạm không thể dùng.

6.8 HOÀNG TUYỀN: Lấy hướng (mặt trước nhà) để tính.

Nói đến HOÀNG TUYỀN là nói đến 1 phương vị gần như bất khả xâm phạm trong Phong Thủy. Bởi các Hung Phương như THÁI TUẾ , NGŨ HOÀNG SÁT , TAM SÁT thì chỉ theo năm mà di chuyển đi , còn HOÀNG TUYỀN là phương vị cố định. Khi Nhà, Mộ mà xác định hướng nào đó là đã có 1 vài phương hướng không thể phạm. Chữ ” Phạm” ở đây ý nói ở những nơi ấy có thể kiêng kỵ như: Phóng thủy ( thải nước ra ), đường đi, nước chầu lại , lạch nước…vv…thậm chí ngay cả trổ cửa , chọn ngày giờ khởi công cũng phải tránh.

6.8.1 TỨ LỘ HOÀNG TUYỀN

  • Canh , Đinh KHÔN thượng thị HOÀNG TUYỀN
  • Ất , Bính tu phòng TỐN thủy tiên
  • Giáp , Quý hướng trung ưu kiến CẤN
  • Tân , Nhâm thủy lộ phạ đương KIỀN.

Nghĩa là:

  • CANH hướng mà thấy ở phương KHÔN có nước nên chảy đến ,chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.
  • ĐINH hướng mà làm nhà thì nước phương KHÔN nên chảy đi ,chảy đến là phạm HOÀNG TUYỀN.
  • ẤT hướng thì phương TỐN nước nên chảy đi, chảy lại là phạm HOÀNG TUYỀN.
  • BÍNH hướng thì nước phương TỐN nên chảy lại, chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.
  • GIÁP hướng thì nước phương CẤN nên chảy lại , nếu chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.
  • QUÝ hướng thì nước phương CẤN nên chảy đi, nếu chảy lại là phạm HOÀNG TUYỀN.
  • TÂN hướng thì nước ở KIỀN ( CÀN ) nên chảy đi , nếu chảy đến là phạm HOÀNG TUYỀN.
  • NHÂM hướng thì nước ở KIỀN nên chảy đến , chảy đi là phạm HOÀNG TUYỀN.

Địa chi gồm:

  • Nhà hướng Mão Thìn Tị Ngọ HOÀNG TUYỀN ở Tốn;
  • Nhà hướng Ngọ Mùi Thân Dậu HOÀNG TUYỀN ở Khôn;
  • Nhà hướng Dậu Tuất hợp Tý HOÀNG TUYỀN ở Kiền;
  • Nhà hướng Tý Sửu Dần Mão HOÀNG TUYỀN ở Cấn.

6.8.2 BẠCH HỔ HOÀNG TUYỀN: Lấy Hướng Để Tính

  • Kiền, Giáp, Khảm, Quý, Thân, Thìn sơn
  • Bạch Hổ chuyển tại Đinh-Mùi gian
  • Cánh hữu Ly, Nhâm, Dần kiêm Tuất
  • Hợi sơn lưu thủy chủ ưu phiền.
  • Chấn, Canh, Hợi, Mùi tứ sơn kỳ
  • thủy nhược lưu Thân khước bất nghi.
  • Cánh hữu Đoài, Đinh, Tị kiêm Sửu
  • phạm trước Ất-Thìn Bạch Hổ khi.
  • Khôn,Ất nhị cung Sửu mạc phạm
  • thủy lai tất nam định vô nghì.
  • Cấn,Bính sầu phùng Ly thượng ,hạ.
  • Tốn,Tân ngộ Khảm họa nan di.
  • Thử thị Hoàng Tuyền chuyên Hướng luận
  • Khai môn-Phóng thủy ắt sầu bi

Giải Nghĩa :

  • Kiền Giáp Khảm Quý Thân Thìn thì Bạch hổ ở Đinh Mùi
  • Ly Nhâm Dần Tuất thì Bạch hổ ở Hợi
  • Chấn Canh Hợi Mùi thì Bạch hổ ở Thân
  • Đoài Đinh Tị Sửu thì Bạch hổ ở Ất Thìn
  • Khôn Ất thì Bạch hổ ở Sửu
  • Cấn Bính thì Bạch hổ ở (ngọ) Ly
  • Tốn Tân thì Bạch hổ ở (tý) Khảm

6.9 KIẾP SÁT: (Lấy tọa sơn để tính)

  • Tốn, Mùi, Thân sơn Quý Kiền tàng
  • Tân, Tuất cư Sửu, Canh mã hương
  • Chấn, Cấn phùng Đinh, Giáp Kiền Bính
  • Nhâm hầu kiến thỏ, Bính Tân phương
  • Khảm Quý phùng xà, Tị Ngọ kê
  • Đinh Dậu phùng Dần, Khôn Hợi ất
  • Long Hổ ngộ dương, ất hầu kiếp
  • Tê ngưu long vị vĩnh bột lập

Giải nghĩa:

  • Các Sơn Tốn, Mùi, Thân có Kiếp sát tại Quý.
  • Tân Tuất Sơn Kiếp sát tại Sửu.
  • Canh Sơn Kiếp sát tại Ngọ.
  • Chấn, Cấn Sơn Kiếp sát tại Đinh.
  • Giáp Sơn Kiếp sát tại Bính.
  • Nhâm Sơn Kiếp sát tại Thân.
  • Kiền Sơn Kiếp sát tại Mão.
  • Bính Sơn Kiếp sát tại Tân.
  • Quý, Tý Sơn Kiếp sát tại Tị.
  • Tị, Ngọ Sơn Kiếp sát tại Dậu.
  • Đinh, Dậu Sơn Kiếp sát tại Dần.
  • Khôn, Hợi Sơn Kiếp sát tại Ất.
  • Thìn,Dần Sơn Kiếp sát tại Mùi.
  • Ất Sơn Kiếp sát tại Thân.
  • Sửu Sơn Kiếp sát Thìn.

7. Hướng dẫn luận giải tinh bàn Huyền không phi tinh

7.1 Lưu ý khi luận giải

  1. Trong tinh bàn cần luận chủ yếu sự hung sát của hai cung sơn và hướng, đó là hai cung rất quan trọng đặc biệt là trong môi trường dương trạch ở đô thị bây giờ. Cách cuộc vượng sơn vượng hướng thường là cát vì đảm bảo đượng yêu cầu nay vì hai cung sơn hướng đều có vượng tinh chiếu, nếu phối hợp với loan đầu nữa thì thật tốt. Có điều so với cách hợp thập (toàn ban có sao sơn – vận hơp 10, hoặc hướng – vận hơp 10) thì cón kém xa bởi cách hợp thập toàn ban đều vượng, khí các quẻ thông nhau, ví dụ 4, 6 là hai cung Càn, Tốn tức Thiên Môn và Địa Hộ , Càn vượng thì Tốn vượng nên chỉ cần một cung vượng toàn ban đều vượng, địa vận lại kéo dài chứ không như cách vượng sơn vượng hướng, nếu sang vận mới mà hướng tinh chuyển vào trung cung thì gọi là nhập tù như vậy phúc đã hết chuyển thành hoạ ngay.
  2. Về lý khí, Huyền Không đặc biệt coi trọng sự vượng suy của khí, đôi khi ngũ hành chỉ là thứ yếu, đừng quá xét quan hệ của ngũ hành sinh khắc giữa các ai tinh, các phi tinh mà quên đi tính chất vượng suy tử của các sao. Sự vượng suy phân ra chi tiết, sao chính vận ví dụ vận 8 là Bát Bạch gọi là sao đương vận, khí nó mạnh nhất và có sức chi phối lớn, tiếp theo là sao vượng khí và sinh khí Cửu Tử, Nhất Bạch. Các sao sinh khí có sức chi phối yếu hơn nhưng cũng là cát tinh, đặc biệt trong đương vận các sao này có thể yếu nhưng sang những vận sau nó lại trở thành hữu dụng đó là trường hợp tính toán cho tương lai nhất là vận dụng trong âm phần mồ mả. Trong một cùng cặp sơn tinh và hướng tinh bước đầu phải xét xem quan hệ của sơn tinh hay hướng tinh thì cái nào là chủ cái nào là khách, sau đó xem chủ vượng hay khách vượng, nếu khách vượng khắc chủ thì là cát mà sinh nhập chủ cũng là cát. Nếu sao khách là suy tử thì luận là hung, kế tiếp mới dùng ngũ hành luận mức độ nặng nhẹ và biến tướng cụ thể của học phúc.
  3. Lưu ý: phương kiếp sát, chỉ lấy tọa sơn (là phương ở sau lưng nhà, đầu mộ) mà bàn về tiêu, nạp chứ hướng sơn không liên quan gì đến. Chỉ kỵ có một sơn thôi như ngồi ở Tốn sơn hay Mùi sơn, Thân sơn mà phương quý có sơn sa cao, mà nghiêng ngả, lệch vẹo, hoặc vỡ lở, hoặc núi đá gồ ghề, lởm chởm là rất kỵ. Nếu ngay ngắn, tròn đẹp thì không sợ kỵ, các sơn khác cũng vậy.
  4. Khi động thổ phải xem có phạm năm Thái Tuế hay không ? Ví dụ năm Tí không nên toạ hướng Tí cùng lắm là Toạ không thể hướng. Nếu xét tinh bàn là cách vượng thì không sợ thái tuế, chỉ sợ hung thì thái tuế làm họa đến mau hơn. Xem thêm cả tam Sát. VD tháng, năm Thân Tí Thìn sát ở 3 phương Tỵ Ngọ Mùi nên tránh động chạm đến 3 phương này. Ngoài ra Huyền Không còn dùng cả Phi Thái Tuế, Ám Kiến (chỉ dùng cho tháng)
  5. Xem xét địa hình xung quanh đặc biệt sơn thuỷ phối ứng với tinh bàn. Trong đô thị thì là ngã 3 ngã tư, ao hồ, sông ngòi, gò đống, mái nhọn, nghĩa trang, các toà nhà xung quanh phối với những cung xấu trong tinh bàn xem có phạm gì không ? VD một cung càn có sao 5, 9, phương ấy lại có nghĩa trang là rất xấu bởi Ngũ Cửu là cặp sao gây hoạ lớn, gặp nghĩa trang âm khí nhiều tổn hại cho người cha già, nữ trong nhà. Nếu mở cửa phụ, cửa sổ thì càng độc hơn, từ đó có cách trấn yểm ngay kịp thời thì sẽ tránh được điều xấu.Một thí dụ về Lý khí và hình thế trong huyền không học.

8. Mở cửa, mở cổng trong Huyền không phi tinh

8.1 Mở cửa, mở công

  1. Nhà được vượng khí tới hướng thì mở cửa trước ngay cung của hướng đó. Nên nắm trọn trong cung đó, nếu là nhân nguyên long hoặc thiên nguyên long thì có thể lấn qua nhau được. Như cung ngọ thì có thể lấn qua đinh và ngược lại. Nếu là địa nguyên long thì chỉ nằm trọn trong cung này mà thôi. 
  2. Nhà không được vượng khí tới hướng thì mở cửa qua cung có vượng khí. Thí dụ nhà tọa dậu hướng mão vận 8. tử khí tứ lục tới hướng nếu mở cửa tại mão hoặc canh thì tứ lục tới cửa. Nhưng nếu mở cửa tại giáp thì vẫn tốt như thường, vì áp dụng bí quyết thành môn thì vượng tinh 8 tới cửa. Đây là cách làm vượng những nhà mà hướng không đắc vượng khí.
  3. Muốn mở cổng, cửa chính hay cửa phụ đều phải dùng đến bí quyết của thành môn, TUỲ THEO TỪNG VẬN, để xác định vị trí của nó, có như thế mới có thể nhận được vượng khí.

Ví dụ:

Nhà nhập trạch trong vận 7, lấy 7 nhập trung cung xoay thuận thì vận tinh 4 tới phía TÂY NAM. Nếu muốn mở cửa ở phương này thì lại phải lấy 4 nhập trung cung. Nếu chọn phương MÙI làm vị trí cửa thì MÙI tương ứng với quẻ THÌN của 4, tức là quẻ ÂM nên đi nghịch, nên vượng khí Thất xích sẽ đến phía TÂY NAM. Ngược lại, nếu chọn phương KHÔN hoặc THÂN để mở cửa sau thì KHÔN và THÂN sẽ tương ứng với TỐN và TỴ của số 4 tức là thuộc quẻ DƯƠNG nên đi thuận, sao Nhất bạch sẽ đến cửa này thì chỉ bình thường mà thôi. Còn bây giờ đã qua vận 8, tuy nhà không sửa đổi để thay đổi trạch vận, nhưng vẫn lấy vận tinh Bát bạch nhập trung cung xoay thuận thì vận tinh Ngũ Hoàng sẽ đến phía TÂY NAM. Vì Ngũ Hoàng không có phương hướng, nên khi bay đến cung nào thì theo phương hướng của cung đó. Cho nên nếu chọn cửa phương MÙI thì lại lấy Ngũ Hoàng nhập trung cung bay nghịch thì sao Bát bạch sẽ tới cửa sau. Bát bạch là vượng khí của vận này nên tài lộc sẽ phát. Đó chính là dùng bí quyết của thành môn khi chọn phương vị cửa cho từng vận mà không cần cải tạo trạch vận vậy. Còn nếu chọn hướng KHÔN hay THÂN thì Ngũ Hoàng sẽ nhập trung cung bay thuận, sao Nhị Hắc tới cửa sau chủ đem lại bệnh tật mà thôi. Muốn ứng dụng Thành Môn thì cần phải có địa thế bên ngoài (tức Loan đầu) ứng hợp, tức khu vực có Thành Môn phải có sông, biển, hồ tắm hoặc ngã ba, ngã tư… thì mới dùng được, còn nếu không thì ít nhất cũng phải có cổng hay lối vào nhà tại đó. chứ nếu không thì dù có để nước hay mở cửa tại khu vực đó cũng không hữu hiệu lắm. Nhất là vấn đề mở cửa thì nếu cửa trước đã có vượng khí thì cần gì phải mở thêm cửa ngay bên cạnh, vừa mất thẩm mỹ, vừa chẳng được lợi lộc gì thêm. Cho nên không phải nhà nào cũng có thể ứng dụng được Thành Môn.

Còn phương toạ trên lý thuyết cũng có thể kiếm Thành Môn để làm vượng cho nhân đinh, và cách tìm thì cũng tương tự như tìm Thành Môn ở hướng. Chỉ có điều là nơi đó cần có núi, gò dất cao hay nhà cao, cây cao… Tuy nhiên trên thực tế thì ít ai dùng tới cách này. Vì nhà nếu đã “Đáo sơn, đáo hướng” thì phía sau đều đã có vượng tinh của sơn tới, nên chỉ cần có núi hay nhà cao tại khu vực phía sau nhà là cũng đủ vượng đinh rồi. Chưa kể tới cuộc “Thu Sơn, Xuất Sát” nữa, cho nên như thế cũng quá đủ cho cuộc vượng đinh. Riêng đối với những nhà có song tinh tới hướng thì chỉ cần ở hướng đắc thuỷ lớn cũng đủ bảo đảm vượng cả đinh lẫn tài rồi.

8.2 Cách tính Thành Môn đơn giản

  • Hướng có Thành Môn phải cùng 1 Thiên, Địa hoặc Nhân nguyên long với toạ, hướng của căn nhà (hoặc ngôi mộ).
  • Hướng của vận tinh tới Thành Môn phải là sơn âm, xoay nghịch thì Thành Môn mới đắc vượng khí và dùng được. Nếu là sơn dương, xoay thuận thì chỉ gặp toàn khí suy, tử tới Thành môn nên không thể dùng. Cho nên gặp những trường hợp như thế thì cứ bỏ đi
  • Nếu khí Thành môn vượng thì dù hướng tinh ở nơi đó có là suy , tử cũng nên đặt nước. Tuy nhiên, nếu đã đặt thì nước phải lớn mới có hiệu quả, nếu nước nhỏ quá thì chỉ mất công trông coi, dọn dẹp mà thôi.Hoặc nơi khí thành môn vượng mà có ngã ba, ngã tư thì rất tốt.

8.3 Hướng cửa phòng ngủ và hướng đầu giường ngủ

Lấy tâm phòng, sau đó đưa tinh bàn của căn nhà vào tâm phòng. Cửa mở tại cung có hướng tinh là cát tinh: 1; 4; 6; 8. Nếu mở cửa tại cung có hướng tinh là vượng, sinh tiến khí thì càng tốt ho8n. Thí dụ: vận 8, cửa phòng có hướng tinh là 8 hoặc 9 thì sẽ tốt cho người ở trong phòng này đặc biệt là về tài lộc. Với học sinh thì nên mở cửa tại cung có hướng tinh 4 (chủ về học vấn)

Dưới đây là bài viết của bác BNQ luận về phòng ngủ

Về việc luận cát, hung của phòng ngủ thì ngoài việc dùng phi tinh của cửa phòng kết hợp với niên-nguyệt tinh thì còn cần phải để ý tới những phương vị có thuỷ hoặc động khí ở gần hay chung quanh phòng ngủ như bếp, cầu thang, hồ cá…Nếu những khu vực này lại nằm cùng 1 cung với cửa phòng thì tính chất cát, hung càng tăng thêm rõ rệt. Chẳng hạn như 1 nhà toạ DẬU hướng MÃO, nhập trạch trong vận 7, thì khu vực ĐB có vận tinh 1, sơn tinh 6 và hướng tinh 2. Nếu 1 phòng ngủ có cửa phòng nằm tại khu vực phíaNguồn:nhantrachoc.net,vn

9. Sự Tương Quan Của Ngũ Hành

Sự tương tác giữa Ngũ hành với nhau được thể hiện qua những hình thức sau:

9.1 Ngũ hành tương sinh

Mọi vật thể muốn phát triển cần được sự hổ trợ, nuôi dưỡng từ những vật thể khác. Do đó, quan hệ tương sinh là biểu hiện quá trình tăng trưởng và phát triển của sự vật.

Nguyên lý ngũ hành tương sinh là:

– KIM sinh THỦY
– THỦY sinh MỘC
– MỘC sinh HỎA
– HỎA sinh THỔ
– THỔ sinh KIM.

Kim sinh Thủy không phải là vì Kim bị đốt nóng sẽ chảy ra thành nước, vì Kim lúc đó tuy ở dạng thể mền lỏng, nhưng đỏ chói, nóng bỏng nên sao có thể gọi là “Thủy” được. Thật ra, nguyên lý Kim sinh Thủy của cổ nhân là vì lấy quẻ CÀN là biểu hiện của Trời, mà Trời sinh ra mưa để tưới nhuần vạn vật, nên Thủy được phát sinh từ Trời. Mà quẻ CÀN có hành Kim nên mới nói Kim sinh Thủy là vậy. Mặt khác, trong Hậu thiên Bát quái của Văn Vương, Thủy là nguồn gốc phát sinh của vạn vật. Nếu không có Thủy thì vạn vật không thể phát sinh trên trái đất. Cho nên khi lấy CÀN (KIM) sinh KHẢM (THỦY) cũng chính là triết lý của người xưa nhìn nhận nguồn gốc của sự sống trên trái đất là bắt nguồn từ Trời, là hồng ân của Thượng Đế. Do đó, trong các nguyên lý tương sinh của Ngũ hành, Kim sinh Thủy là 1 nguyên lý tâm linh, triết lý và vô hình, và cũng là nguyên lý tối cao của học thuyết Ngũ hành tương sinh, vì nó là sự tương tác giữa Trời và Đất để tạo nên vạn vật. Còn những nguyên lý tương sinh còn lại chỉ là sự tương tác giữa những vật thể với nhau trên trái đất để duy trì sự sống mà thôi, nên cũng dễ hiểu và dễ hình dung hơn.

9.2 Ngũ hành tương khắc

Mọi vật thể khi bị sát phạt, khắc chế sẽ đi đến chỗ tàn tạ, thoái hóa. Do đó, quan hệ tương khắc là để biểu hiện quá trình suy vong và hủy diệt của sự vật.

Nguyên lý của Ngũ hành tương khắc là:

– KIM khắc MỘC.
– MỘC khắc THỔ.
– THỔ khắc THỦY.
– THỦY khắc HỎA.
– HỎA khắc KIM.

Trong những nguyên lý tương khắc chỉ là sự tương tác giữa những vật thể với nhau để đi đến sự hủy diệt. Như vậy, trong nguyên lý tương sinh, tương khắc của Ngũ hành, người xưa đã bao hàm cả triết lý sự sống là bắt nguồn từ Trời (Thượng Đế), nhưng trường tồn hay hủy diệt là do vạn vật trên trái đất quyết định mà thôi. Ngoài ra, nó cũng bao hàm hết cả quá trình Sinh-Vượng- Tử- Tuyệt của vạn vật rồi vậy.

9.3 Ngũ hành phản sinh

Tương sinh là quy luật phát triển của vạn vật, nhưng nếu sinh nhiều quá đôi khi lại trở thành tai hại. Điều này cũng tương tự như 1 em bé cần phải ăn uống cho nhiều thì mới mau lớn. Nhưng nếu ăn nhiều quá thì đôi khi có thể sinh bệnh tật hoặc tử vong. Đó là nguyên do có sự phản sinh trong Ngũ hành.

Nguyên lý của Ngũ hành phản sinh là:

  • Kim cần có Thổ sinh, nhưng Thổ nhiều thì Kim bị vùi lấp.
  • Thổ cần có Hỏa sinh, nhưng Hỏa nhiều thì Thổ thành than.
  • Hỏa cần có Mộc sinh, nhưng Mộc nhiều thì Hỏa bị nghẹt.
  • Mộc cần có Thủy sinh, nhưng Thủy nhiều thì Mộc bị trôi dạt.
  • Thủy cần có Kim sinh, nhưng Kim nhiều thì Thủy bị đục.

9.4 Ngũ hành phản khắc

Khác với quy luật phản sinh, Ngũ hành phản khắc là khi một hành bị khắc, nhưng do lực của nó qúa lớn, khiến cho hành khắc nó đã không thể khắc được mà lại còn bị thương tổn, gây nên sự phản khắc.

Nguyên lý của Ngũ hành phản khắc là:

  • Kim khắc được Mộc, nhưng Mộc cứng thì Kim bị gãy.
  • Mộc khắc được Thổ, nhưng Thổ nhiều thì Mộc bị gầy yếu.
  • Thổ khắc được Thủy, nhưng Thủy nhiều thì Thổ bị trôi dạt.
  • Thủy khắc được Hỏa, nhưng Hỏa nhiều thì Thủy phải cạn.
  • Hỏa khắc được Kim, nhưng Kim nhiều thì Hỏa sẽ tắt.

Cho nên trong sự tương tác giữa Ngũ hành với nhau không chỉ đơn thuần là tương sinh hay tương khắc, mà còn có những trường hợp phản sinh, phản khắc sẽ xảy ra nữa. Biết hết được những điều này thì khi ứng dụng vào Huyền không phi tinh mới đạt đến mức độ linh hoạt và tinh vi, chính xác hơn. Chẵng hạn như một ngôi nhà nơi phía ĐÔNG có các vận-sơn-hướng tinh 3-3-7. Nếu theo thông thường thì thấy 7 thuộc hành Kim khắc 3 thuộc hành Mộc, nên nếu nhà này có cửa ra vào tại nơi đó thì đoán là nhà sẽ có người bị gãy tay, chân vì Kim khắc Mộc. Nhưng nếu nhìn kỹ thì thấy nơi đó có tới hai sao hành Mộc. Lại thêm phía ĐÔNG cũng hành Mộc. Cho nên Mộc nơi này vượng, một sao Kim thế yếu không thể khắc được, mà còn bị phản khắc lại. Vì thế nhà này không có người bị gãy tay chân, mà chỉ có bị bệnh yếu phổi hay đau phổi mà thôi.


10. Vượng Sơn, Vượng Hướng

Sau khi đã thiết lập được tinh bàn (hay trạch vận) cho 1 căn nhà thì điều trước tiên là phải xác định được những khu vực nào có sinh –vượng khí, cũng như những khu vực nào có suy – tử khí của căn nhà đó. Điều này cũng rất dễ dàng, vì chỉ cần căn cứ vào thời điểm lúc đang coi Phong thủy cho căn nhà là thuộc vận nào, rồi lấy vận đó làm chuẩn mốc. Kế đó nhìn vào hết 9 cung của trạch bàn. Hễ thấy cung nào có Hướng tinh cùng 1 số với đương Vận (tức vận hiện tại) thì khu vực đó được xem là có VƯỢNG KHÍ. Những cung nào có 2 số tiếp theo sau vượng khí thì được xem là có SINH KHÍ. Những cung nào có số trước số của vượng khí thì bị coi là có SUY KHÍ. Còn những cung nào có những số trước vượng khí từ 2 số trở lên thì đều bị coi là có TỬ KHÍ. Những điều này được áp dụng cho cả Hướng tinh lẫn Sơn tinh, còn Vận tinh thì không mấy quan trọng nên không cần phải xét tới.

VƯỢNG KHÍ: Hướng tinh cùng 1 số với đương Vận (tức vận hiện tại) thì khu vực đó được xem là có VƯỢNG KHÍ
SINH KHÍ: Những cung nào có 2 số tiếp theo sau vượng khí thì được xem là có SINH KHÍ
SUY KHÍ: Những cung nào có số trước số của vượng khí thì bị coi là có SUY KHÍ
TỬ KHÍ: Còn những cung nào có những số trước vượng khí từ 2 số trở lên thì đều bị coi là có TỬ KHÍ

Ví dụ Vận 8:
VƯỢNG KHÍ: 8
SINH KHÍ: 9-1
SUY KHÍ: 7
TỬ KHÍ: 6-5-4-3-2

Ví dụ Vận 9:
VƯỢNG KHÍ: 9
SINH KHÍ: 1-2
SUY KHÍ: 8
TỬ KHÍ: 7-6-5-4-3

*Thí dụ 1: Nhà tọa TÝ hướng NGỌ, xây xong và vào ở trong vận 8.

Nếu lập trạch vận thì sẽ thấy Hướng tinh 8 tới phía NAM, nên phía NAM được xem là đắc VƯỢNG KHÍ (vì hướng tinh cùng 1 số với đương Vận, tức Vận 8). Còn phía ĐÔNG BẮC có hướng tinh số 9, phía TÂY có hướng tinh số 1, tức là 2 số tiếp theo sau số 8 (vì sau 8 là 9, sau 9 lại trở về 1) nên là 2 khu vực có SINH KHÍ. Còn phía BẮC có hướng tinh số 7, trước số 8 (đương vận) 1 số nên là khu vực có SUY KHÍ. Những phía còn lại có những hướng tinh 6, 5, 4, 3, 2, tức là những số trước số 8 tối thiểu là 2 số nên đều là những khu vực có TỬ KHÍ. Đó là mới chỉ xét về Hướng tinh. Sau đó lần lượt làm như vậy với Sơn tinh để tìm ra những khu vực có Sinh- Vượng khí hay Suy-Tử khí.

  • số 1: BẮC: Gồm 3 sơn NHÂM (+) –TÝ (-) – QUÝ (-)
  • số 8 ĐÔNG BẮC: 3 sơn SỬU (-) – CẤN (-+) – DẦN (+)
  • số 3 ĐÔNG : 3 sơn GIÁP (+) – MÃO (-) – ẤT (-)
  • số 4 ĐÔNG NAM: 3 sơn THÌN (-) – TỐN (+) – TỴ (+)
  • số 9 NAM : 3 sơn BÍNH (+) – NGỌ (-) – ĐINH (-)
  • số 2 TÂY NAM : 3 sơn MÙI (-) – KHÔN (+) – THÂN (+)
  • số 7 TÂY: 3 sơn CANH (+) – DẬU (-) – TÂN (-)
  • số 6 TÂY BẮC: 3 sơn TUẤT (-) – CÀN (+) – HỢI (+)
  • số 5 TRUNG CUNG 0 sơn ___

* Thí dụ 2: Cũng nhà tọa TÝ hướng NGỌ, xây xong và vào ở năm 2000 (tức vận 7).

Đến năm 2007 mới coi Phong thủy. Vì nhà còn mới, chưa tu sửa gì nhiều, chủ nhà cũng chưa bao giờ đi xa quá 1 tháng, cho nên khi lập trạch vận thì vẫn phải dùng Vận 7 để lập Vận bàn. Sau đó lấy Tọa, Hướng bàn thì sẽ thấy Hướng tinh 7 tới phía BẮC, Hướng tinh 8 tới phía TÂY NAM. Hướng tinh 9 tới phía ĐÔNG, Hướng tinh 1 tới phía ĐÔNG NAM. Vì nhà này nhập trạch trong vận 7, nên lúc đó phía BẮC có Hướng tinh số 7, nên là 1 khu vực tốt (đắc VƯỢNG KHÍ). Còn phía ĐÔNG NAM có Hướng tinh số 1, lúc đó trong Vận 7 còn là Tử khí nên là 1 khu vực xấu. Nhưng đến năm 2007 mới coi Phong thủy thì đã qua Vận 8, nên lúc đó khu vực phía BẮC có số 7 là bị SUY KHÍ, nên đã biến thành xấu. Còn khu vực phía TÂY NAM có hướng tinh số 8, lúc này đã trở thành VƯỢNG KHÍ, nên là khu vực tốt nhất của căn nhà. Rồi Hướng tinh số 1 đang là TỬ KHÍ của vận 7 trở thành SINH KHÍ của vận 8, nên khu vực phía ĐÔNG NAM cũng đang từ xấu mà biến thành tốt.

Cho nên sự biến đổi của Sơn, Hướng tinh: từ Sinh-Vượng thành Suy-Tử, rồi từ Suy-Tử trở thành Sinh-Vượng là điều mà người học Huyền Không cần để ý, và nó cũng là 1 trong những yếu tố giúp cho việc giải đoán Phong thủy thêm phần linh hoạt và uyển chuyển, chính xác hơn.

Sau khi đã phân biệt Cửu khí thành SINH-VƯỢNG-SUY-TỬ cho mỗi vận thì mới xét tới mức độ ảnh hưởng của chúng như sau:

– SINH KHÍ: có tác dụng tốt, tuy ảnh hưởng lâu dài và trong tương lai, nhưng cũng cần được phát huy.

– VƯỢNG KHÍ: có tác dụng tốt đẹp và mau chóng, nhất là trong lúc còn đương vận, cho nên cần được phát huy càng sớm càng tốt.

– SUY KHÍ: vì chỉ là khí suy nên tác dụng cũng chưa đến nổi xấu lắm (ngoại trừ các khí 2, 5, 7) cho nên tuy cần phải né tránh nhưng cũng không phải là tuyệt đối.

– TỬ KHÍ: là những khí xấu cần phải né tránh, nếu không sẽ có tai họa về nhân sự, sức khỏe hoặc tiền bạc.

Kế đó lại còn phải phân biệt những khí SINH-VƯỢNG-SUY-TỬ đó là Sơn tinh hay Hướng tinh. Nếu là Sơn tinh thì sẽ có ảnh hưởng đến nhân sự (số lượng người nhiều, ít, tài giỏi hay không…trong nhà). Nếu là Hướng tinh thì sẽ có ảnh hưởng đến sức khỏe và tài lộc của gia đình đó.

Trong “Thiên ngọc kinh Ngoại thiên” của Dương công Chẩm có viết: “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài lộc”. Chữ “Sơn” ở đây không chỉ có nghĩa là “núi”, mà còn là Sơn tinh của 1 trạch vận. Cũng như chữ “Thủy” không chỉ có ý nghĩa là “sông nước”, mà còn là Hướng tinh (do quan niệm phương tọa cần có núi, phía trước cần có thủy). Cho nên Sơn tinh chủ về nhân đinh, còn Hướng tinh chủ về tài lộc.

Vì đã gọi là “Sơn”, nên Sơn tinh nếu muốn phát huy tác dụng (hay đắc cách) thì cần phải có núi cao (hay nhà hoặc cây cao…). Vì đã gọi là “Thủy”, nên Hướng tinh nếu muốn phát huy tác dụng thì cần phải gặp nước (thủy). Nhưng không phải Sơn tinh nào cũng cần phải gặp núi, mà chỉ có những Sơn tinh đang là khí Sinh, Vượng mà thôi. Chẳng hạn như trong vận 1 thì các Sơn tinh 1 (vượng khí), 2, 3 (sinh khí) đóng ở khu vực nào thì cần có núi hay nhà cao ở tại khu vực đó. Có như vậy thì gia đình đó nhân đinh đông đúc, lại chủ xuất hiện người tài giỏi, có danh, có tiếng. Ngược lại, những khu vực có những Sơn tinh là Suy khí hay Tử khí thì lại cần thấp, trống hay bằng phẳng. Nếu tại những khu vực đó mà có núi hay nhà cao… thì sẽ có tai họa về nhân đinh như hiếm người, con cái khó lấy chồng, lấy vợ, hoặc trong nhà xuất hiện cảnh chia ly, góa bụa, cô quả…

Đó chỉ là riêng đối với các trường hợp khí SINH, VƯỢNG, SUY, TỬ của Sơn tinh. Còn đối với các trường hợp của Hướng tinh cũng thế. Tuy rằng Hướng tinh cần có Thủy, nhưng chỉ những khu vực nào có Sinh khí hay Vượng khí của Hướng tinh mới cần có Thủy như sông, hồ, ao, biển hoặc buồng tắm, nhà vệ sinh, đường xá, cửa ra vào… Nếu được như thế thì tài lộc dồi dào, của cải sung túc, công việc làm ăn ổn định… Ngược lại, nếu những khu vực có Suy, Tử khí của Hướng tinh mà lại có “THỦY” thì nhà đó tài lộc túng thiếu, dễ bị hao tán tiền của, công ăn việc làm lụn bại…

Thí dụ 3: nhà hướng 30 độ, tức tọa MÙI hướng SỬU, vào ở trong vận 8.

Nếu lập Trạch vận thì sẽ thấy các Hướng tinh 8 (Vượng khí), 9, 1 (Sinh khí) ở các khu vực phía ĐÔNG BẮC, TÂY và TÂY BẮC. Cho nên những khu vực này (bên trong hay bên ngoài nhà) cần có thủy của sông hồ, ao biển, buồng tắm, cửa ra vào … Còn khu vực phía NAM có hướng tinh 7 (Suy khí) nên không nên có thủy, nếu có tất nhà sẽ dễ bị trộm cướp quấy phá. Những khu vực còn lại cũng toàn là Tử khí của Hướng tinh nên đều không nên có thủy hoặc cửa ra vào.

Kế đó lại xét tới những trường hợp của các Sơn tinh. Vì các Sơn tinh số 8 (Vượng khí), 9, 1 (Sinh khí) nằm tại các khu vực phía TÂY NAM, BẮC và NAM, nên nếu những khu vực này mà có núi hay nhà cao… thì nhà này sẽ đông con, nhiều cháu, con cái tài giỏi, nên người… Các khu vực còn lại thì chỉ toàn là Suy khí hay Tử khí của Sơn tinh, nên nếu có núi hay nhà cao tất sẽ làm phương hại tới nhân đinh của căn nhà này.

Sau khi đã biết và phân biệt được những yếu tố trên rồi mới có thề xét tới trường hợp cơ bản đầu tiên của Phong thủy Huyền Không là Vượng sơn, Vượng hướng. Như chúng ta đã biết, Phong thủy bắt đầu từ Hình tượng, rồi sau này mới phát triển lên tới Lý khí và Vận số. Mà Hình tượng phái (tức Loan đầu phái) thường chủ trương nhà cần có núi bao bọc, che chở nơi phía sau (Huyền Vũ), còn phía trước thì cần phải trống thoáng, có sông, hồ phản chiếu ánh sáng để tích tụ Long khí (Chu Tước), đồng thời có cửa ra vào để hấp thụ Long khí. Còn đối với Phong thủy Huyền không thì khi cất nhà phải chọn hướng như thế nào cho Vượng khí của Hướng tinh tới Hướng (tức phía trước), còn Vượng khí của Sơn tinh tới phía sau. Phối hợp giữa Hình tượng với Lý khí (tức phi tinh) thì nhà này sẽ có Vượng khí của Hướng tinh tới phía trước, đắc Thủy của sông hồ, lại có lối ngõ, cửa nẻo vào nhà nên tài lộc đại vượng. Còn Vượng khí của Sơn tinh tới phía sau gặp núi nên chủ vượng nhân đinh, con cháu đông đúc, nhân tài xuất hiện nên là cách cục “phúc lộc song toàn”. Cho nên Vượng Sơn, Vượng Hướng (còn gọi là ĐÁO SƠN, ĐÁO HƯỚNG, vì vượng khí của Sơn tinh tới tọa, vượng khí của Hướng tinh tới hướng) là cách cục cơ bản của Phong thủy và Huyền Không. Những nhà có cách cục như vậy còn được gọi là những nhà có “Châu bảo tuyến” (hướng nhà quý như châu báu). Điểm quan trọng của những trường hợp này là giữa hình thế bên ngoài (Loan đầu) và phi tinh có sự tương phối thích hợp. Ngược lại, nếu 1 căn nhà phía trước cũng có sông hồ, phía sau cũng có núi cao. Nhưng do việc chọn hướng không thích hợp, hoặc do xây dựng không đúng lúc mà khi lập Trạch vận thì Vượng khí của Sơn tinh lại tới hướng (phía trước), còn vượng khí của Hướng tinh lại tới tọa (phía sau) thì tuy hình thế chung quanh của ngôi nhà là tốt, nhưng do không ứng hợp được với phi tinh nên lại chủ phá tài, tổn đinh, tan cửa nát nhà mà thôi. Đây còn gọi là cách cục “Thượng sơn, Hạ thủy” sẽ nói ở 1 phần khác.

Một điểm cần chú ý trong cách cục “vượng Sơn, vượng Hướng” (hay “Đáo Sơn, Đáo Hướng”) này là tuy trên lý thuyết thì các nhà Phong thủy thường coi những nhà có vượng khí của Hướng tinh tới phía trước, còn vượng khí của Sơn tinh tới phía sau nhà là cách cục “vượng Sơn, vượng Hướng”. Nhưng điều quan trọng là ngoại hình bên ngoài của căn nhà (Loan đầu) có phù hợp với vượng khí của Sơn và Hướng tinh hay không? Nếu phù hợp thì mới thật sự là cách cục “vượng Sơn, vượng Hướng”, và nhà mới phát phúc, phát lộc. Còn nếu ngoại hình không phù hợp thì sẽ biến thành cách cục “Thượng Sơn, Hạ Thủy” mà gây ra hung họa đầy dãy. Nhưng thế nào là phù hợp hay không phù hợp? Như chúng ta đã biết, Sơn tinh mà muốn đắc cách thì phải đóng ở những khu vực có núi cao. Còn Hướng tinh mà muốn đắc cách thì phải đóng ở những khu vực có Thủy như sông biển hoặc đường đi hay cửa nẻo ra vào nhà… Cho nên những nhà mà có vượng khí của Hướng tinh tới phía trước thì còn đòi hỏi khu vực phía trước của nhà đó phải trống, thoáng, có thủy hay đường đi, cửa ra vào… Còn vượng khí của Sơn tinh đến phía sau cũng đòi hỏi khu vực phía sau nhà có núi hay nhà cao… Có như thế mới được coi là thật sự đắc cách “Đáo Sơn, Đáo Hướng” mà đinh, tài đều vượng. Ngược lại, nếu như nhà đó có vượng khí của Hướng tinh tới phía trước, nhưng phía trước nhà lại có núi hay nhà cao, hoặc bị gò đất nhô lên, hay bị cây cối rậm rạp, um tùm che chắn… tức là vượng khí của Hướng tinh không gặp “Thủy” mà lại gặp “Sơn”. Còn vượng khí của Sơn tinh tuy tới phía sau, nhưng phía sau nhà lại không có núi hay nhà cao, mà lại có sông, hồ, ao, biển, hoặc cống rãnh…, tức là vượng khí của Sơn tinh không gặp “Sơn” mà lại gặp “Thủy”. Đó đều là những cách cục suy bại về tài lộc và nhân đinh. Cho nên mới nói giữa phi tinh và ngoại hình Loan đầu bên ngoài phải có sự phù hợp là như vậy. Nếu phù hợp thì mới thật sự là “vượng”, và mọi sự mới được tốt đẹp. Còn nếu như trái ngược (tức không phù hợp) thì dù có “vượng” cũng sẽ thành “suy” và phát sinh ra muôn vàn tai họa.

11. Thượng Sơn, Hạ Thủy

“Thanh nang Tự” viết: “Long thần trên núi không được xuống nước, Long thần dưới nước không được lên núi”. Đây là 1 nguyên lý trọng yếu của Huyền Không, hay như Thẩm trúc Nhưng nói là “then chốt của cát, hung, họa, phúc”.

Như chúng ta đã biết “Sơn quản nhân đinh, Thủy quản tài lộc”. Chữ “Sơn” ở đây không những chỉ nói về “Núi”, mà còn dùng để ám chỉ những phi tinh của Sơn bàn (tức Sơn tinh). Cũng như chữ “Thủy” ở đây không những chỉ nói về “Nước”, mà còn dùng để ám chỉ những phi tinh của Hướng bàn (tức Hướng tinh). Cho nên Sơn tinh chủ về nhân đinh, Hướng tinh chủ về tài lộc. Chính vì thế nên khí sinh, vượng của Sơn tinh cần đóng tại những nơi có núi hay gò đất cao, hay những nơi có nhà cửa, cây cối cao lớn. Như thế là những cách cuộc Sơn tinh đắc cách, chủ người trong nhà tài giỏi, đông đúc, thành công sớm, tên tuổi vang dội… Còn khí sinh, vượng của Hướng tinh thì cần đóng tại những nơi có sông, hồ, ao, biển, đường rộng, ngã ba, ngã tư hay cửa ra vào… Đó là những cách cuộc Hướng tinh đắc “Thủy”, nên tài lộc của gia đình sẽ không bao giờ thiếu, công việc làm ăn ổn định…

Ngược lại, nếu những nơi có khí sinh, vượng của Sơn tinh lại không có núi hay nhà cao, cây cao, nhưng lại có Thủy của sông, hồ, ao, biển, hoặc là những vùng thấp, trũng… thì sẽ chủ gia đình ly tán, cô quả, tuyệt tự hoặc yểu chiết… Cho nên mới nói “Long thần trên núi không được xuống nước”. Chữ “Long thần trên núi” thực ra là để ám chỉ Sơn tinh. Sơn tinh nếu là khí sinh, vượng so với đương vận thì không thể đóng tại những nơi thấp, trũng hoặc có nước (hạ thủy), kẻo nếu không thì sẽ có tai họa cho nhân đinh.

Tương tự như thế, nếu những nơi có khí sinh, vượng của Hướng tinh lại không có Thủy của sông, hồ, ao, biển, đường đi hoặc cửa ra vào…, nhưng lại có núi hay nhà cao, cây cao thì sẽ chủ tài lộc khó khăn, công việc làm ăn lụn bại, gia cảnh lầm than, sa sút. Cho nên mới nói “Long thần dưới nước không được lên núi”. Chữ “Long thần dưới nước” là để ám chỉ Hướng tinh. Hướng tinh nếu là khí sinh, vượng so với đương vận thì không thể đóng tại những nơi cao ráo hoặc có núi đồi (thượng sơn), kẻo nếu không sẽ có tai họa về tiền bạc. Đây chính là cách cuộc “Thượng sơn, Hạ thủy” trong Huyền không học.

Thí dụ: nhà tọa Sửu hướng Mùi, nhập trạch trong vận 8. Nếu lập trạch vận thì sẽ thấy tinh bàn của căn nhà

Trước hết xét về Sơn tinh, ta thấy các khu vực TÂY, TÂY BẮC và ĐÔNG BẮC của căn nhà này có các số 9, 1, và 8, tức là những sinh, vượng khí của Sơn tinh (so với đương vận, tức vận 8). Nếu những khu vực này chỉ toàn là sông, hồ, hoặc đường đi, chứ không có núi hay nhà cao thì nhà này đã phạm cuộc “Hạ thủy”, chủ nhân đinh suy bại. Sau đó, lại xét về Hướng tinh, ta thấy các khu vực phía BẮC, NAM và TÂY NAM có các số 9, 1 và 8, tức là những sinh, vượng khí của Hướng tinh trong vận 8. Nếu những khu vực này không có Thủy, mà lại có núi đồi hay nhà cao, cây cao, thì căn nhà này còn phạm thêm cuộc “Thượng sơn”, chủ suy bại cả về tài lộc nữa.

Cũng tương tự như những trường hợp “vượng Sơn, vượng Hướng” (hay “Đáo Sơn, Đáo Hướng”) là trên lý thuyết thì các nhà Phong thủy thường cho những nhà có vượng tinh của Hướng đến tọa, vượng tinh của Sơn đến hướng là thuộc cách cuộc “Thượng sơn, Hạ thủy”, và gọi những nhà lập trạch vận theo những hướng đó là những nhà có “Hỏa Khanh tuyến” (tức hướng xấu hay bần tiện). Nhưng trên thực tế thì còn phải tùy thuộc vào bối cảnh Loan đầu bên ngoài của căn nhà đó như thế nào rồi mới có thể kết luận là nhà đó có bị “Thượng sơn, Hạ thủy” hay không được.

Thí dụ: nhà tọa Khôn hướng Cấn, xây và vào ở (nhập trạch) trong vận 8. Nếu lập trạch vận thì tinh bàn căn nhà sẽ như

Trước hết xét về Sơn tinh, ta thấy khu vực ĐÔNG BẮC có Sơn tinh 8, tức là vượng khí của Sơn tinh tới hướng, nên trên lý thuyết là phạm cuộc “Hạ thủy” (vì vượng tinh của Sơn tới hướng (phía trước nhà). Nhưng nếu khu vực này không có sông, hồ, ao, biển, mà lại có núi đồi hay nhà cao, thì vượng khí của Sơn tinh nhà này đã đắc cách, tức là đóng tại chỗ có cao sơn thực địa, cho nên trong nhà nhân đinh vẫn đông đúc, chứ không bị suy bại. Sau đó lại xét tới Hướng tinh, ta thấy khu vực phía TÂY NAM có Hướng tinh 8, tức là vượng khí của Hướng tinh tới phương tọa, nên trên lý thuyết là phạm cuộc “Thượng sơn”. Nhưng nếu khu vực này không có núi, đồi hoặc nhà cao, mà lại có Thủy hoặc đường đi, cửa ra vào… thì vượng khí của Hướng tinh nhà này vẫn đắc cách, tức là đóng tại chỗ có Thủy nên tiền của, tài lộc của gia đình này vẫn dồi dào, sung túc.

Cho nên điều quan trọng là phải phối hợp phương vị của phi tinh với địa hình bên ngoài thì mới có thể xác quyết được chính xác mọi trường hợp tốt, xấu, chứ không thể mới nhìn thấy 1 căn nhà có vượng tinh của Hướng tới phía trước, vượng tinh của Sơn tới phía sau mà đã vội cho là căn nhà tốt. Hoặc mới thấy 1 căn nhà có vượng tinh của Hướng tới phía sau, vượng tinh của Sơn tới phía trước mà đã vội cho là căn nhà xấu thì sẽ dẫn tới những sai lầm đáng tiếc.

Một điểm cần chú ý khác là tuy Sơn tinh cai quản về nhân đinh, và cần đóng tại những chỗ cao sơn thực địa, nhưng chỉ có những sinh, vượng khí của Sơn tinh mới nên gặp núi đồi hoặc nhà cao mà thôi. Còn những khí suy, tử của Sơn tinh thì lại không nên đóng ở những nơi đó, mà chỉ nên đóng ở những chỗ bằng phẳng hoặc có Thủy mà thôi. Nếu chẳng may mà nhà lại có khí suy, tử của Sơn tinh đóng tại những chỗ cao hoặc núi đồi thì sẽ gặp tai họa do những đối tượng đó gây ra. Thí dụ như hiện tại đang trong vận 8, nên nếu 1 nhà có sơn tinh Thất xích (số 7) đóng tại khu vực có núi hay nhà nhà cao chót vót thì sẽ bị tai họa do Sơn tinh Thất xích mang tới. Vì Thất xích là biểu tượng của kẻ tiểu nhân hay giặc cướp, nên nhà này sẽ thường xuyên bị bọn trộm cướp tới phá phách, hoặc ra ngoài bị kẻ tiểu nhân tìm cách hãm hại…

Tương tự như thế, đối với Hướng tinh tuy cai quản về tài lộc, và cần đóng tại những chỗ thấp trũng hoặc có thủy, nhưng chỉ có những sinh, vượng khí của Hướng tinh mới cần thỏa mãn điều kiện này mà thôi. Còn đối với những suy, tử khí của Hướng tinh nếu gặp Thủy sẽ chủ gây ra những tổn thất về tiền bạc, hoặc những bệnh tật, tai họa, tùy theo tính chất của Hướng tinh đó như thế nào.

Lấy thí dụ như 1 nhà trong vận 8, có hướng tinh Nhị hắc gặp thủy, cho nên nhà này vừa bị hao tiền, vừa thêm bệnh tật nhiều, nhất là về tỳ vị, sảy thai, hỏa hoạn, hình ngục, tai nạn xe cộ. Trong nhà dễ có quả phụ hoặc ni cô…

Cho nên đối với những Hướng tinh là khí suy, tử thì lại nên đóng ở những chỗ cao ráo hoặc yên tĩnh. Có như thế thì mới tránh nỗi họa mà thôi. Còn nếu như khí suy, tử của Sơn tinh mà còn đóng ở những nơi có núi hay nhà cao, khí suy tử của Hướng tinh đóng ở những nơi có thủy hoặc cửa nẻo ra vào nhà thì tức là cảnh “HUNG TINH ĐẮC CÁCH”, tai họa còn khủng khiếp hơn là cách cục “thượng Sơn, Hạ Thủy” nữa.

Nói tóm lại thì sinh, vượng khí của Sơn tinh phải đóng ở những chỗ cao ráo, còn sinh, vượng khí của Hướng tinh cần gặp thủy. Nếu được như thế là nhà có phúc, có lộc, còn nếu ngược lại là cảnh bần tiện, nghèo hèn. Cho nên người học Huyền không phải dựa vào những tiêu chuẩn này mà chọn phương lập hướng cho đúng, tức là phải kiếm cho được những nhà đắc “vượng Sơn, vượng Hướng” (hay “Đáo Sơn, Đáo Hướng”), và phải xa lánh những nhà có cách cuộc “Thượng Sơn, Hạ Thủy” mới được. Ngoài ra cũng cần phải để ý, không bao giờ để cho những khí suy, tử của Sơn, Hướng tinh có thể trở thành “Hung tinh đắc cách” mà gieo rắc tai họa cho người ở trong nhà được.

Xem tiếp: Huyền không phi tinh toàn tập – phần 2

QUÝ KHÁCH CÓ YÊU CẦU THIẾT KẾ - THI CÔNG VUI LÒNG LIÊN HỆ
Hotline:  0976.067.303  –  094.95.18.444
Email: thicongxaydung24h@gmail.com
Facebook: facebook.com/thicong24h