CHƯƠNG XII. LUẬN VỀ PHƯƠNG VỊ QUÝ TIỆN
Từ chương I đến chương XI nói về chi tiết căn bản để học khoa Địa lý. Từ chương XII này trở đi nói về tổng hợp các căn bản đó và thêm cả tổng hợp về lý khí nữa.
Nói cách khác 11 chương trên nói nhiều về căn bản và về loan đầu và từ chương 12 này trở đi nói nhiều về tổng hợp và lý khí.
LUẬN VỀ PHƯƠNG VỊ QUÝ TIỆN
- Tam thai là Hợi, Chấn, Canh.
- Lục tú là Cấn, Bình, Tốn, Tân, Đoài, Đinh đều là âm long, đều là quý nếu tầm được long đó.
- Tý, Ngọ, Dần, Thân là Dương long.
- Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là Tứ Mộ Long.
- Càn lão dương, Khôn lão âm đó là tiện cách.
- Giáp, Ất, Nhâm, Quý là Dương Long.
- Tốn Tỵ (Âm) Thìn Tuất (dương) Sửu Mùi (âm) đều là tiện cách.
- Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý Mùi, Giáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi: đó là Đại vượng tướng.
- Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý Mão, Giáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi là Bàng vượng.
- Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý Dậu, Giáp Tuất, Ất Hợi: đó là chính Cô Hư.
- Nhâm Tý, Quý Sửu, Giáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý Hợi: Đó là Bàng Cô Hư.
- Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý Tỵ, Giáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu: Đó là Không Vong, Quan Sát.
- Điểm huyệt nên thừa Vượng Tướng mà bỏ Cô Hư, tránh Không Vong.
Thì sẽ tự nhiên phát phúc, có thể đạt được thần công.
CHƯƠNG XIII. TỔNG LUẬN CÁC CỤC PHÁP
Đây là nói các cách thế của đất kết
TỔNG LUẬN CÁC CỤC PHÁP
– Phú Quý Thọ Khang Ninh đều là do quý địa chứ không phải là do lời nói suông.
– Bần tiện nghèo khó cùng yểu, phần nhiều đều là do thiên cơ, há chẳng biết ru.
Câu 1: Thủy triều cửu khúc, phú quý vạn chung.
Sơn ứng tứ duy, vinh thăng chín trật.
Thủy triều chín khúc, minh đường nước chan chứa: chủ giàu
Tứ duy (Càn Khôn Cấn Tốn) có núi cao chót vót: chủ sang.
Câu 2: Có thiên trụ cao, thọ như Bành Tổ
Có thiên tâm phá thì chết non như Nhan Hồi.
Thiên trụ là Càn, nếu huyệt phì và cao hậu ở Càn phương, cao ứng chủ thọ.
Thiên tâm hậu đầu, kỵ nước chảy đi, bị chết non.
Câu 3: Cấn thấy Bính: Giàu và sang
Đoài thấy Đinh: Thọ và vinh
Cấn chủ phú. Nếu Cấn sơn nhập huyệt, Bính thủy triều mà Tốn phương có sơn ứng là tốt.
Đoài là tú long, nếu Đoài long nhập huyệt, có Đinh thủy triều mà Bính phương có sơn ứng là tốt.
Câu 4: Chấn, Canh phấn phát về võ, nắm quyền hành trọng yếu tại Hợi Tốn.
Canh Chấn phấn phát về võ, chính phương Nam tọa Khảm hướng Ly.
– Hợi long Bính ứng, Tốn phương có núi cao
– Tốn long, Hợi (thủy) ứng, Chấn Canh phương, có cờ trống lạ, Khảm long, Ly hướng, Chấn Canh ứng, là đất kết văn trước, võ sau, do đường khoa mục mà nắm chính quyền.
Các phương Cấn, Tốn có tinh phong khởi đột, chủ làm võ tướng, cấp thống lãnh (Tư lênh).
Câu 5: Thiên thị kiến Canh, trước phát văn sau phát võ.
Bính thấy Tân, trước phát võ sau phát văn.
– Thiên thị là Cấn – Cấn long Canh thủy ứng: Cấn chủ văn, Canh chủ võ cho nên trước phát văn sau phát võ.
Bính long, Tân (thủy) ứng, Bính chủ võ chức và Tân chủ văn chương. Cho nên trước phát võ sau phát văn.
Câu 6: Thiên Hoàng (Hợi) nhập Thiên thị (Cấn) quý khôn tả.
Thái Ất (Tân) gặp Thiên Ất (Tốn) tiếng lừng vô địch.
Thiên Hoàng là Hợi – Nếu long mạch khởi từ Hợi, chuyển sang Cấn mà tứ chính (Tý, Ngọ, Mão, Dậu) có cao phong ứng chủ con cháu giòng giống giàu sang thịnh vượng.
Thái Ất là Tân – nếu Tân sơn lai Tốn thủy hoặc Tốn sơn lai Tân thủy ứng – chủ trúng khoa danh, thiên hạ vô địch vậy.
Câu 7: Tốn Tấn đặc đạt: chu tủ (áo đỏ, tía) khắp triều
Chấn Canh tú lệ: Giáp, Bính đầy nhà
Câu 8: Tam cát lục tú long kết cuộc
Tốn Tân có cao phong đẹp ứng về, hoặc bút vút từng mây: chủ về khôi khoa.
– Phương Chấn, Canh có cờ trống. Hoặc ô núi cao tú lệ ứng về: chủ phát võ tướng.
Câu 9: – Nhật mã kiến Thiên mã: danh chiếm Trạng Nguyên
– Vị ngư kiến đại ngư: quan cư nhất phẩm.
Nhật mã là nam phương, nếu có yên ngựa (Thiên mã) nổi cao lên, đứng tôn lập cho huyệt mà huyệt ngồi tôn nghiêm có tú khí thì phát Trạng Nguyên. Cụ Tả Ao nói:
“Muốn cho con cháu Tam Khôi
Phương Nam có bút, phương đoài có nghiên”
Nghiên là “đại ngu” vậy, nếu phương Đoài có nghiên và phương Nam có bút lập nữa thì đỗ tam khôi (3 lần thì Hương, Hội và Đình đều đỗ đầu).
Câu 10: Tên chiếm Khôi Nguyên chủ tam dương cao vọt
– Chỗ ngồi lăng miếu – chỉ vì tư thế quân bình.
Tân là Kim Long, gặp Bính, Ngọ, Đinh là tam dương Kim và Hỏa thành khí nên đỗ đầu thiên hạ.
Tý, Ngọ, Mão, Dậu là 4 thế – huyệt ngồi đoan chính, 4 phương quân bình – con cháu phát khanh tướng.
Câu 11: Hợi, Tốn tiếng là vua tôi
Chấn, Canh như là vợ chồng
Gặp Đinh, Giáp bảng thì tuổi trẻ có thanh danh gặp Đinh, Quý ứng chủ tuổi thọ thêm giàu có. Ngọ long, Đinh thủy lai triều, thiếu niên đỗ đầu. Đinh long mà Quý phương có sơn ứng – chủ giàu thọ.
Câu 12: Càn, Đinh thì thọ, không nên tương kiến.
Chấn, Hợi chủ quý chỉ muốn gặp nhau.
– Càn (kim) Đinh (hỏa):
Nếu Càn long gặp Đinh phương nên mỏng, thấp.
Đinh long gặp Càn phương cũng nên mỏng, thấp.
– Chấn long gặp Hợi thủy, hoặc Hợi long gặp Chấn thủy: tất chủ quý hiền vậy.
Câu 13: Đất có tam kỳ: Vàng ngọc dùng xa xỉ
Thổ có 4 thứ: tiền của thóc lúa không dùng hết
– Phàm huyệt tốt – Hợi, Chấn, Canh (tam kỳ) có ứng thì giàu lớn – Phương Cấn Bính cũng vậy.
– Phàm thổ hình, nhiều huyệt kết – Bốn thế có núi cao, quân bình chủ cự phú – cho nên mới nói như vậy.
Câu 14: Một nam bao ba nữ, sở thuận về đâu thời theo đấy
– Một nữ gặp ba nam, ở đâu thời lấy đó.
Khôn, Ly, Đoài là nữ – hoặc nga mi hoặc bán nguyệt, hoặc như gương, như hốt, hoặc như liên châu (chuỗi châu) như đàn tỳ bà (thuộc về đồ dùng của đàn bà).
Dậu long nhập huyệt, mà Khảm, Cấn, Chấn ba phương có tứ ứng thì trước phát nữ, sau phát nam.
Chấn là trưởng nam
Khảm là trung nam
Cấn là thiếu nam
Tốn là trưởng nữ
Ly là trung nữ
Đoài là thiếu nữ
Vị nào ứng thì vị đó phát.
Như là Cấn long, thứ đến Khảm Đoài cũng thế.
Câu 15: – Dậu, Tốn phát con gái thông minh
– Chấn canh phát con trai uy vũ.
Câu 16: Làm quan ở ngũ phủ, do ở nhị thổ, nhị kim
– Chức giữ ở lục bộ do ở khí tàng bát tướng
nhị Kim là Càn Đoài, nhị Thổ là Khôn Cấn ứng về.
Câu 17: Kho tàng thấy ở Cấn, Bính, con trai giàu địch quốc
– Nga mi thấy ở Tý Ngọ, con gái đẹp khuynh thành.
Câu 18: Càn nạp Giáp, Khôn nạp Ất đoán trước đắc thời.
Tý ưa Ngọ, Thìn ưa Thân, bèn biết đắc thế
– Càn longnạp Giáp thủy – Khôn long nạp Ất thủy.
Tý long Ngọ hướng phát như lôi – Thìn long Thân hướng cũng như vậy.
Đều là dương long, dương thủy sẽ chỉ phát một thời.
Câu 19: Ngũ khí triều nguyên, cửa nhiều xe ngựa
– Tứ Kim tú bão, nhà rực trâm anh
Mộc ở Đông, Kim ở Tây, Hỏa ở Nam, Thủy ở Bắc, Thổ ở giữa làm huyện: Con cháu nhiều xe ngựa.
– Tú Kim khởi ứng bốn phương – huyệt ở giữa: trâm anh gia truyền vậy.
Câu 20: Thế tuy đại, huyệt bất cầu đại, chí ái nội tâm niêm khí.
– Huyệt tuy tiểu, phúc phát bất thiểu, chân do nghịch thủy.
Thế tuy lớn, huyệt không cần lớn, chỉ ưa nội tâm đĩnh khí.
Huyệt tuy nhỏ, phát phúc không nhỏ, chính vì có nước nghịch lại.
Luận câu 20: Từ mười dặm long mạch chạy lại, kết huyệt chẳng qua chỉ vừa chiếc chiếu, điều đáng ưa là nội đường nhỏ, vừa một người nằm nghiêng – trời mưa chứa nước đọng ở trong, cho nên nói là không cần đất rộng vậy.
Huyệt tuy nhỏ bé, nhưng kho mạch gồm thu cả lại có cách nghịch hướng, thu tất cả nước từ đầu nguồn lại, con cháu giàu sẽ mua hết cả ruộng của thế gian.
“Thụ tận nguyên đầu thủy
Tử tôn mãi tận thế gian điền”
Cho nên nói là phát phúc không nhỏ vậy.
Câu 21: Mộc sinh văn sĩ, thổ vượng điền ngưu.
– Đa kim đa ngọc, thủy sản anh hùng.
Hình mộc phát văn sĩ, hình thổ vượng ruộng, trâu
Kim nhiều vàng ngọc, thủy sản anh hùng.
Luận câu 21:
a. Mộc tính tĩnh xứ, khởi tiết tiết sinh văn chương chi sĩ
b. Thổ tính trọc phì, mãn tiến điền ngưu chi phú
c. Đa Kim tích ngọc, khai khẩu dĩ đấu lượng kim.
d. Thủy kiến Kim, Thổ kiến Thủy đa xuất anh hùng.
Có nghĩa là:
Mộc tính yên lặng, nếu có đốt đốt mọc lên, gồ lên kết huyệt, táng vào sẽ sinh ra những bậc văn chương thi sĩ.
Thổ tinh trọc phì, huyệt kết ứng sinh người giàu có, nhiều ruộng trâu.
Hình Kim chứa nhiều ngọc, nếu huyệt Kim khai khẩu mà để được đất vào đó, thì giàu có thể lấy đấu đong vàng.
Câu 22: Tam thai tiền, Tam thai hậu, Tể tướng côn khanh
Thất diệu Đông, thất diệu Tây, Trạng Nguyên Phụ Bật.
Tam thai trước, tam thai sau, sẽ phát tể tướng công khanh.
Thất diệu phía Đông, thất diệu phía Tây, Trạng Nguyên Phụ Bật.
Câu 23: Hình giải đệm, mở chiếu, đất đó rất quý.
– Có tiền quan hậu quỷ, đất đó rất tốt.
Câu 24: Phát phúc lâu dài, chẳc hẳn nước quanh huyền vũ
Làm quan phú hậu, tất nhiên nước lượn thanh long
Luận câu 24: Kiểu đât hồi long cố tổ, nước tiền đường chảy quanh về huyền vũ, mà đi, thì phát phúc không có dứt. Long ưa nghịch chiều, nếu nước chảy xuôi mà long đi ngược lên thì con cháu là quan mà giàu vậy.
Câu 25: Cầm hình văn quan, yếu chi hình thế nhi luận.
– Thú hình vũ sĩ, vưu đương tường mạch lạc nhi suy.
Cầm hình phát văn quan, cần biết hình thế mà bàn.
Thú hình phát vũ sĩ, nên tường mạch lạc mà suy.
Câu 26: Đại thể xuất văn chương, do hồ thủy khẩu sinh quái thạch.
– Thế thế liên khoa mục, tại hồ long thượng khởi tinh phong
Đời đời xuất phát văn chương, do ở thủy khẩu sinh quái thạch
Đời đời liền có khoa mục, do ở thân long khởi tinh phong.
Luận câu 26: Kết tại Cấn, Hợi long, nhập Tốn, Tân, kỳ huyệt quỷ khí, hựu quái thạch trấn thủy
khẩu, tầm thủy, trướng thủy, lạc như phù, tử tôn phú quý dã.
Kết ở Cấn, Hợi long, nhập Tốn, Tân huyệt dã quý khí lại có quái thạch, trấn ở thủy khẩu, rút nước lên cạn, nổi quái thạch, nên con cháu giàu sang vậy.
Câu 27: Thế thế liên khoa mục, kiến tú mạch kết cục, Long thân thượng tiết tiết sinh phong, như liên châu, đại đại tử tôn văn chương dã.
Đời đời liền phát khoa mục, huyệt đã có mạch tốt kết cục.
Trên minh long lại có đốt đốt cao lên như liên châu, nên đời đời con cháu phát văn chương vậy.
Câu 28: Bạch ốc xuất công khanh, do hồ hồi long cố tổ.
– Điền phu chí tể tướng, do hồ nghịch thủy nhập hoài.
Bạch ốc xuất công khanh do ư hồi long đoái tổ.
Điền phu làm đến tể tướng do ư nghịch thủy vào lòng.
Luận câu 28: Tổ như phụ viễn hành, hồi long như tử, cửu vọng kiến nhi tự khoái, cố viết hồi long chi lực bạc năng linh bạch ốc chí công khanh
Tổ như là cha đi xa, hồi long như là con trông lâu được nhìn thấy mà vui mừng, cho nên nói là sức hồi long tuy bạc nhược mà có thể khiến cho bạch ốc làm tới công khanh.
– Huyệt tuy tại sơn, nhưng họa phúc tại thủy, thủy nghịch cấp phát, nhập hoài càng nhanh, cố viết sử điền dã chi nhân vi quan chi tể tướng.
Huyệt tuy ở sơn họa phúc ở thủy. Nước nghịch chảy siết vào lòng càng chóng phát nên mới nói là được đất đó, dù là người điền dã cũng làm quan tới tể tướng vậy.
Câu 29: Thổ nhập Thổ tử tôn đa hào phú
Mộc nhập Mộc tử tôn đa khoa mục
Thổ vào thổ con cháu nhiều hào phú. Mộc vào Mộc con cháu nhiều khoa mục.
Luận câu 29: Cấn thuộc Thổ chủ phú, Thổ vượng điền ngưu
Cấn long nhập thổ tinh, tác huyệt chi phú quý dã.
Cấn thuộc thổ chủ về giàu, Thổ thì vượng về ruộng trâu.
Cấn long vào Thổ tinh làm huyệt chủ về giàu sang vậy.
Hợi thuộc mộc vi mộc thế, Hợi nhập cục tác mộc huyệt, đa văn sĩ dã.
Hợi thuộc mộc làm mộc thế, Hợi nhập cục làm mộc huyệt, đấy là phát nhiều văn sĩ vậy.
Hựu nhất thế long hành khởi tổ, đại thổ tinh chi thổ hữu huyệt, tứ hành như thử chi loại.
Lại một thế cách nữa, long mạch đi khởi tổ từ đại thổ tinh đến thổ có huyệt. Bốn hành khác đều giống như thế.
Câu 30: Nhất sơn nhất án túc dĩ tự vinh
Nhất huyệt nhất đường túc dĩ trí phú.
Một sơn, một án đủ sức tự vinh
Một huyệt một đường, đủ sức làm giàu.
Luận câu 30:
a. Chung ứng nhất huyệt thanh kỳ nhất án, tuy vô long, hổ diệc vinh hoa.
Chung ứng vào một huyệt, thanh kỳ ở một án, tuy không có long, hổ vẫn vinh hoa.
b. Thổ tinh kết huyệt hướng đường, trữ thủy diệc trí phú dã
Thổ tinh kết huyệt hướng đường chứa nước cũng có thể làm giầu vậy.
Câu 31: Lư chiên trúng dự ngao đầu, cáo trục đa sinh phò mã
Hình như lư chiên, đậu trúng ngao đầu, cáo trục sinh nhiều phò mã.
Luận câu 31:
a. Huyệt kết hồi long, tiền diện sơn như hoa cái, hậu huyệt như lư chiên, phát trạng nguyên.
Huyệt kết hồi long, trước mặt có núi, hình như hoa cái (lọng hoa), ở sau huyệt, hình như lư chiên (rơi ngựa) phát trạng nguyên vậy.
b. Phàm huyệt kết xứ, Nam phương Bính, Ngọ, Đinh, sơn hình như cáo trục đẳng lập, nam hôn công chúa dã.
Phàm chỗ huyệt kết, ở Nam phương (Bính, Ngọ, Đinh) có núi hình như cáo trục, đứng chầu, con trai lấy được công chúa vậy.
Câu 32: Sơn thôi thoái vận, tuần tiết nhi phát nhi tôn. Thủy khán nguyên đầu, kiến phương nhi tri chức nghiệp.
Núi suy chuyển xuống theo đốt tiết mà phát con cháu. Nước xem từ đầu nguồn mà biết chức nghiệp.
Luận câu 32:
a. Sơn lai tự đầu giáng khởi, mỗi nhất tiết phát nhất đại, đốn khởi nhi suy.
Núi đến từ đầu trở xuống, mỗi một đốt tiết phát một đời, theo chỗ thấp chỗ cao mà suy luận.
b. Phàm thủy chi lai trường khê từ chữ giai hữu thăng, tự phát – Hà tự nhi luân giả như Tý phát nguyên thủy chủ thương mại, dĩ thử luận tha, khả loại suy.
Phàm nước trường khê tới, quan hệ tự chỗ phát nguyên. Xem từ chữ gì mà định luận. Giá như nước phát nguyên từ chữ Tý thì chủ về buôn bán, cứ theo pháp đó mà suy luận rộng ra.
Câu 33: Tam thai tiền, vương tự hậu, tiền hậu vinh xương
Ngũ nhạc hậu, liên châu tiền, hậu tiền vinh hiển.
Tam thai đằng trước, chữ vương đằng sau thì trước sau vinh xương.
Ngũ nhạc ở sau, liên châu ở trước, thì sau trước vinh hiển.
Luận câu 33:
a. Thử địa sinh phong hầu, tử miếu thực.
Kiểu đất này sống được phong hầu, chết được miếu thực (làm thần được cúng tế).
b. Ngũ nhạc hậu, hậu ngũ tử giai vinh hiển đạt.
Ngũ nhạc ở đằng sau, 5 con đều hiển đạt.
c. Liên châu sơn kỳ giả, tiền phát liên châu.
Liên châu sơn ở đằng trước thì trước phát liên châu.
Câu 34: Thạch thất hoa khai, vọng chi nhi quý địa
Thủy nguyên trước tĩnh, đắc chi nhi cát huyệt.
Thạch thất hoa khai, nhìn đó mà biết là quý địa.
Nguồn nước lặng im được chỗ đó mà làm huyệt tốt.
Luận câu 34:
a. Phàm thổ khởi, nhất cư huyệt dã, giai quy địa dã.
Phàm đất gồ lên một chỗ mà làm huyệt, đều là đất quý vậy.
b. Phàm thủy tính bản động, kiến tĩnh xứ giai hữu kết huyệt dã.
Phàm nước tính vốn động, thấy chỗ nước im lặng thì có huyệt kết vậy.
Câu 35: Nhất trùng bão khỏa nhất trùng khai. Tướng Tướng vương hầu tại thử gian.
Tứ vi hoàn nhiễu tứ vi cố, công khanh phụ bật cư thử trú.
Một trùng bao bọc, một trùng mở, tướng văn tướng võ vương hầu ở chỗ đó.
Bốn bề quanh co bốn bề đoái lại, công khanh phụ bật đóng tại đó.
Luận câu 35:
a. Kết huyệt nội khai nhất trùng, ngoại cao nhất trùng, thủy khẩu tỏa mật, đích thị vương hầu chi địa
Huyệt kết trong khai mở một trùng, ngoài lại cao lên một trùng, thủy khẩu thì đóng kín. Đúng là đất vương hầu.
b. Tứ diện giai miên cung, loan cung bão, công khanh tất cư thử xứ
Bốn mặt đều hình cánh cung, nằm ôm lấy, công khanh ở tại chỗ đó.
Câu 36: Vị liệt đài giai, yếu đắc xích xà nhiễu ấn
– Chức cư thanh quý, do hồ thanh long liên châu
Ngồi ở đài giai, cần có xích xà nhiễu ấn.
Chức ở thanh quý, do tại Thanh Long liên châu
Luận câu 36:
a. Như Cấn, Hợi kết cục Tỵ phương hữu ấn, như long bão hướng chủ quý dã.
Như Cấn Hợi kết cục, Tỵ phương có ấn mà lại có long bão hướng, chủ quý vậy.
b. Cấn, Hợi long kết cục, nhi long thân khởi tinh phong, chủ quý dã.
Cấn, Hợi long kết cục mà trên thân long nổi tinh phong cũng chủ quý vậy.
Câu 37: Dậu vị sơn cao tế ác khí, tĩnh thanh bất phi nhất hào.
Mão phương thủy tụ án quang minh, long nhi cận, danh phương tứ hải.
Dậu phương khí thanh tịnh, không bị xâm phạm mảy may.
Mão phương nước tụ án quang đãng được gần long nhan (vua) tiếng lừng bốn biển.
Câu 38: Mùi phương thê thiếp chi vị, sở ái giả trừu thanh.
Mão phương quân vương chi vị, sở kỵ giả lăng áp.
Mùi phương chủ thê thiếp, đáng yêu ở chỗ trong sạch.
Mão phương chủ quân vương đáng kỵ là bị lấn át.
Luận câu 38:
a. Mùi phương chủ thê thiếp, như hữu viên sơn tú ứng, tất hữu hiền thê tú thiếp.
Mùi phương chủ về thê thiếp, nếu có núi tròn thanh tú ứng về, sẽ có vợ hiền thiếp tốt.
b. Mão phương nhật xuất chi minh quân, tượng như sơn cao lăng chi nội, vị chi lăng áp thái dương, nan thụ quân ân.
Mão phương là chỗ mặt trời mọc, sáng sủa, tượng về vua, nếu ở trong có núi cao che khuất (che khuất mặt trời mọc) gọi là lấp che thái dương, khó mà được hưởng ơn vua.
Câu 39: Càn, Khôn nhị vị đáo đầu, tuy phát phúc, chung niên bại tuyệt.
a. Càn lão dương, Khôn lão âm, lưỡng long kết cục diệc phát nhất đại, bại tuyệt dã.
Càn là lão dương, Khôn là lão âm, hai long này kết cục, cũng chỉ phát có một đời rồi bị bại tuyệt.
b. Thìn, Tuất giai một khổ, long phát nhất đại nhi tử tôn bần cùng.
Thìn, Tuất đều là mộ khố long, cũng chỉ phát được một đời rồi con cháu lại bần cùng.
Câu 40: Tý, Ngọ, Dần, Thân, tứ dương long chi vị toàn
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi tứ mộ long chi sở ố.
Tý, Ngọ, Dần, Thân là bốn dương long chưa được hoàn toàn.
Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là bốn mộ long thật đáng nên ghét.
Luận câu 40:
a. Tứ dương long phát nhất đại
Bốn dương long chỉ phát được một đời.
b. Tứ mộ long tuy phát phúc, tử tôn bại tuyệt.
Bốn mộ long tuy phát phúc nhưng sau con cháu lại ngoan ngu bại tuyệt.
Câu 41: Tiến nguyên đầu không, tài cao bất đệ
a. Tốn, Tân không khuyết, tuy học quá nhận, ứng thí bất đệ
Phương Tốn, Tân bị không khuyết, tuy sức học hơn người nhưng đi thi không đậu.
b. Càn phương vô sơn, thâm thủy, niên hưởng bất kỳ
Càn phương không có núi cao, lại nước sâu thì tuổi sống không được mấy.
Câu 42: Đại sơn áp như thủy tinh tai hại tịnh chí.
Mão tinh như nhật mã, hung họa tự tùy.
Đại sơn áp tới thủy tinh, tai hại đều tới
Mão sơn lấn sang nhật mã, hung họa theo tùy.
Luận câu 42:
a. Sửu phương hung vị, huyệt cư cận túc, hậu sơn lăng áp, tử tôn hung bạo, họa bại dã, nhật mã ngộ hỏa dã.
Sửu sơn là hung vị, huyệt ở gần chân, hậu sơn lấn áp huyền vũ, con cháu hung bạo, họa bại vậy.
b. Mão phương hữu sơn cư chi, chủ thống mục
Mão phương có núi ở đó chủ về bị đau mắt.
Câu 43: Thủy phóng Quỷ vị, nhi thê thiếp họa bại nan đào.
Thủy phóng Ngưu phương, nhi tử tôn đạo tặc dị hư
Thủy phóng ở Mùi vị, thê thiếp bị họa bại khó tránh.
Thủy phóng ở Sửu phương, con cháu làm trộm cướp dễ hư
Quý vị Mùi dã, Ngưu, Sửu phương dã.
Quý là phương Mùi, Ngưu là phương Sửu.
Câu 44: Đới đao, đới kiếm, bất nghi ư một khố chi vị
Hân quần, vũ tụ, bất kham ư mộc dục chi hương
Hình đới đao, đới kiếm không nên ở ngôi Mộ Khố.
Hình hân quần vũ tụ, không nên ở nơi Mộc Dục.
Luận câu 44:
a. Mộ Khố: Thìn, Tuất, Sửu, Mùi dã. Nhược kiến ư đao kiếm tại thử phương, tử tôn khởi đạo tặc dị tạo hình hại dã.
Mộ Khố là 4 phương Thìn, Tuất, Sửu, Mùi nếu thấy có sơn hình như đao như kiếm ở phương đó thì con cháu sẽ khởi lên làm đạo tặc mà bị hình hại vậy.
b. Mộc dục Tý, Ngọ, Mão, Dậu dã. Thử phương hữu hình như hân quần vũ tụ tất sinh hoa nguyệt chi nữ dã.
Mộc dục là bốn phương Tý, Ngọ, Mão, Dậu – Nếu thấy phương đó có sơn hình như vén quần sốc áo tất sẽ sinh ra con gái trăng hoa vậy.
Câu 45: Bình bát kiến ư Khôn, Thân tất sinh tăng ni.
Án tinh kiến ư Dần, Thân tất sinh vu nữ
Bình bát thấy ở Khôn, Thân tất sinh ra những tăng ni.
Án tinh hiện ở Dần, Thân tất sinh ra bọn vũ nữ.
Câu 46: Cao phong độc xuất ư nam phương, viên hình, khủng tai hình chi họa
Cao phong trấn áp ư Thiên mẫu, khủng tân hạ đệ chi danh.
Cao phong trơ trọi ở phương Nam, hình tròn, sẽ bị họa tai, hình sát.
Cao phong trấn áp ở thiên mẫu e bị mang danh thì hỏng.
Câu 47: Sửu, Mùi, Dần, Thân ngộ hồ lô, nhi phong tàn bệnh tật.
Sửu, Mùi, Dần,Thân kiến bút, hoang hấn tụng từ.
Sửu, Mùi, Dần, Thân gặp hình hồ lô, bị bệnh phong, tàn tật.
Sửu, Mùi, Dần, Thân thấy hình bút, bị gây hấn kiện tụng.
Câu 48: Minh đường can hạt, si bất đăng khoa
Huyền vũ đê bạc, nhân vô thọ khảo
Minh Đường khô khan, học trò không thi đỗ
Huyễn vũ mỏng thấp, người không sống lâu
Câu 49: Ngũ hành nhập miếu, tiểu cục thành nhân
Tam tiêm sấm vân, sĩ nho cao trúng
Ngũ hành ở chỗ miếu, vượng đất nhỏ cũng nên người.
Ba cây bút chấm mây, học trò thi đỗ cao.
Luận câu 49:
a. Mộc cư Đông, Hỏa cư Nam, Kim cư Tây, Thủy cư Bắc. Giả như Đoài Kim mạch lai, Kim tác huyệt, ngộ nhất mộc cư Đông tại án, đắc miếu vượng, huyệt tuy tiểu diệc xuất công khanh.
Ví như phương Đoài, mạch lai hình Kim, lại khai huyệt hình Kim. Có một hình Mộc ở phương Đông đến làm án, là miếu vượng nhất, dù đất nhỏ cũng phát công khanh.
b. Giả như Tân, Dậu, Canh tam tiêm sấm vân, cát mạch nhập huyệt tọa nhi hướng chi, tất phát trạng nguyên dã.
Nếu như ở phương Canh, Dậu, Tân có ba cây bút nhọn, vươn lên chấm mây, mà mạch cát. Phân kim tọa huyệt mà hướng đúng sẽ phát trạng nguyên.
Câu 50: Nhất thốn thổ, nhất thốn Kim, tại hồ thủy tụ nhập hoài.
Nhất Hỏa long, nhất Mộc án, thân sử Hàn lâm.
Một tấc đất, một tấc vàng, cốt ở nước tụ vào lòng.
Một hỏa long nhập huyệt gặp mộc làm án, ở chức Hàn Lâm vậy.
Câu 51: Chiêu tặc quân tại Tý, Ngọ, do hồ Tý, Ngọ hoặc kiếm, hoặc kỳ, tất sinh hung tướng chi nhân.
– Nhất thốn thổ, nhất thốn kim, tâm tư thiết thiết. Tam đẳng nhân, tam đẳng vật, tình tự v.v…
Chiêu tặc quân tại Tý, Ngọ, do ư Tý Ngọ hoặc kiếm hoặc cờ, tất sinh ra người hùng tướng.
Nhất thốn thổ, nhất thốn kim, lòng nhớ bâng khuâng.
Tam đẳng nhân, tam đẳng vật lòng sầu man mác.
Luận câu 51:
a. Kim Mộc tương phản nhau
Kim Hỏa tương cộng nhau
Huyệt họa Mộc tinh, thấy trước án là Kim tinh sẽ khắc thể. Huyệt tọa Kim tinh cũng vậy.
Kim huyệt mà nhập Hỏa chủ về tuyệt diệc. Mộc huyệt mà thấy Kim, tổn thương con cái.
Câu 52: Cô sơn như lập tại Đông phương, thường xuất tăng ni đạo sĩ.
Long mạch như loa tại Khôn, Thân thường xuất nghiêm sư, hòa thượng.
Cô sơn như chiếc nón ở Đông phương, thường phát xuất tăng ni đạo sĩ.
Mạch như ốc xoáy tại Tây phương thường phát xuất nghiêm sư, hòa thượng.
Câu 53: Càn, Khảm, Cấn sinh viên ấn, phù pháp phong lưu
Hợi, Mão, Mùi như bao tiểu Kim, y sư kinh nghiệm.
Càn, Khảm, Cấn phương có hình án tròn sẽ phát thầy pháp, phong lưu
Hợi, Mão, Mùi phươn có hình như bọc tiêu Kim phát thầy thuốc giỏi.
Câu 54: Tiền sơn loạn y đố nữ loạn dâm,
Long hổ giao nha vi đại sát.
Phía đầu núi như loạn y sẽ phát gái ghen, loạn dâm.
Tay Long Hổ giao nha (nhe răng vào nhau) là đại sát.
Câu 55: Nẫu liên mật tinh nhi liên bạc mệnh
Bát phong suy tảo, huyệt bán tử, bán ly
Đệm liền như đào giếng, con cái luôn luôn bạc mệnh
Tám phương gió thổi vào huyệt, nửa chết nửa phân ly.
Câu 56: Tứ phương tiêm xạ huyệt, khởi tai khởi nghiệt.
Bốn phương bắn nhọn vào huyệt, gây tai họa cho huyệt.
Luận câu 56:
Tả xạ trưởng nam tuyệt.
Hữu xạ thứ nam vong
Nhược nhiên đương diện xạ, trung tử định ly hương
Bắn vào bên tả thì trưởng nam tuyệt, bắn vào bên hữu thì thứ nam chết, nếu bắn vào giữa, con giữa ly hương.
Câu 57: Sa thủy nhược tà trắc, nữ nhân tham hoa sắc. Sơn tẩu Đông Nam, táng hậu nhất trương hung họa.
Sa thủy nghiêng ghé, con gái trăng hoa.
Núi chạy Đông Nam, sau khi táng bị một trận hung họa.
Luận câu 57: Sa thủy do tán loạn, táng hậu tiền tài tán.
Sa thủy tán loạn, chôn xong sẽ tán tài.
Câu 58: Miếu xã ngộ táng huyệt, huyệt hạ nhân đinh tuyệt.
Táng vào chỗ miếu xã, hạ huyệt xong sẽ bị tuyệt con cái.
Câu 59: Tiền hậu kiến tước phá huyệt, hạ chiêu tai họa.
Phía trước phía sau thấy hụt, phá, huyệt hạ rước lấy tai vạ.
Câu 60: Long Hổ đoạn thủy xuất, định mãi tận điền trạch.
Minh Đường thủy phản khuynh, tử tôn ly hương bại.
Long Hổ đoạn thủy chảy ra, nhất định phải bán hết ruộng đất.
Minh đường nước hắt nghiêng trở ra, con cháu phải xa làng, thất bại.
Câu 61: Diện tiến kiến xạ Tào sát nhân bất dụng lực.
Khảm úy Thìn nhi Khôn úy Mão
Chấn kỵ Thân nhi Tốn kỵ Dậu
Càn ố Ngọ nhi Đoài ố Tỵ
Cấn kỵ Dần nhi Ly kỵ Hợi
Trước mặt thấy mũi nhọn, giết người không dùng sức.
Khảm sợ Thìn, Khôn sợ Mão
Chấn kỵ Thân, Tốn kỵ Dậu
Càn kỵ Ngọ, Đoài kỵ Tỵ
Cấn kỵ Dần, Ly kỵ Hợi
Luận câu 61: Khảm long kết huyệt nhi Thìn thượng hữu nha đao.
Long kiến thủy giai hung họa chi triệu dã khả loại thử nhập cát dã.
Khảm long kết huyệt mà trên cung Thìn có gò đống, núi non hình nha đao là hung họa.
Long kiến thủy là Khảm long mà hướng Thìn có nha đao. Đây là phép Long Thượng bát sát. Xin xem Phụ Lục I cho rõ.
Câu 62:
Đinh Canh Khôn thượng thị Hoàng Tuyền.
Ất Bính tu phòng Tốn thủy tiên.
Giáp Quý hướng lai hưu kiến Cấn
Tân Nhâm thủy lộ phạ đương Kiền
Như sơn mạch cốt nhục đoạn thương, mạch tuyệt khí, tử tôn bại tuyệt dã.
Đinh, Canh thì Khôn là Hoàng Tuyền.
Ất Bính không nên phóng thủy ở Tốn.
Giáp Quý hướng lai, lo thấy ở Cấn
Tân, Nhâm thì sợ đường thủy ở Càn
Nếu sơn mạch cốt nhục bị đoạn khí, con cháu bị bại tuyệt vậy.
Lưu ý: Muốn biết rõ hơn ở câu 62 xin xem phụ lục II nói về Bát Đại Hoàng Tuyền.
Câu 63: Thủy phá Thái Dương, dâm trọc chi thái tự khởi.
Thủy phá Cấn vị, bần phạp chi thán tự sinh.
Thủy phá Thái Dương, thói dâm trọc tự khởi.
Thủy phá Cấn vị, lời than nghèo tự sinh
Luận câu 63:
a. Thái Dương: Tý, Ngọ, Mão, Dậu kỳ thủy tự
Dậu phóng Mão hoặc chuyển Mão phóng Dậu
Tý Ngọ diệc nhiên cách giai dâm thái dã.
Thái dương là Tý, Ngọ, Mão, Dậu – Dòng nước từ Dậu phóng ra Mão, hoặc chuyển Mão phóng ra Dậu.
Tý, Ngọ cũng thế, đều là cách dâm thái vậy.
b. Cấn sinh phú, nhược Cấn thủy phi khứ giai bần tiện dã.
Cấn chủ phú, nếu cấn thủy bị chảy đi đều là cách bần tiện vậy.
Câu 64: Thủy lưu quy bối, cơ hàn khất cái
Sơn tọa cô đơn, tử tôn nan kế
Nước chảy lưng rùa, bị đói rét ăn mày
Sơn ngồi cô đơn, con cháu khó bề nối dõi.
Luận câu 64:
Tọa tuyệt diện tiền, thủy như quy bối hoặc huyệt lộ hình
Thủy như quy bối, tử tôn tất bần, khất cái. Cô đơn giả, sơn tân cận, hoặc bạc điền, đê điền, lưỡng biên vô hậu, khí vô tàng phong, tất tuyệt tự dã.
Tọa tuyệt chỗ trước mặt như lưng rùa, con cháu nghèo, phải ăn mày. Cô đơn là núi gần sát hoặc bạc điền, đê điền ở hai bên không có hậu khí, không chắn gió tất bị tuyệt tự vậy.
Câu 65: Đại để sơn thủy tụ chung, khí tú thanh, khuất khúc vi cát, trùng sơn xích thổ, băng phá, bạc độc vi hung.
Đang thủy xu cát tỵ hung dĩ toàn kỳ thiện dã.
Đại để sơn thủy tụ được tú khí, thanh thủy, khuất khúc là tốt. Còn trọc sơn, xích thổ, lở vỡ bạc độc là dở.
Phải chọn sơn thủy sao cho xu cát tỵ hung để cho sự tốt lành được toàn vẹn.
Xem thêm chương 1, 2: Phong thủy địa lý – Tầm long điểm huyệt [Địa Lý Tả Ao Bí Thư Đại Toàn – Chương 1 &2]
Xem thêm chương 3, 4: Sơn thủy pháp, thủy khẩu [Địa Lý Tả Ao Bí Thư Đại Toàn]
Xem chương 5 -> chương11: Huyền vũ, Chu tước, Long hổ, Ấn sa, Quan quỷ luận [Địa Lý Tả Ao Bí Thư Đại Toàn]
Xem chương 14 ->20: Sơn thủy, âm dương luận và phụ lục [Địa Lý Tả Ao Bí Thư Đại Toàn]
Qua bài viết: Luận phương vị và các cục pháp [Địa Lý Tả Ao Bí Thư Đại Toàn] nếu vẫn còn thắc mắc hoặc cần tư vấn, hỗ trợ. Quý khách vui lòng liên hệ theo thông tin dưới đây:
Thiết kế một cuộc sống đẳng cấp hơn
Zalo: 0977 959 138
Email: thicongxaydung24h@gmail.com
Cám ơn bạn đã theo dõi bài viết! Vui lòng chia sẻ bài viết nếu bạn thấy thông tin ở trên sẽ hữu ích với nhiều người.
Chúc bạn một ngày mới tốt lành và tràn đầy năng lượng!